Thứ Sáu, 27 tháng 2, 2026

Vài hàng về Châu Vũ vương .

 Trong bài AN DƯƠNG VƯƠNG “THẬT” Ở CỔ LOA đăng trên trang Hùng Việt sử quán có đoạn :

Vào đời Hùng Vương thứ 17 là Hùng Nghị Vương, có vị Thạc công là con của bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng dõi họ Hùng, mẹ người Gia Bình (Bắc Ninh). Thạc thần được Thục chủ gả con gái và nhường ngôi cho, trở thành vị Thục chủ kế tiếp. Sau đó Hùng Duệ Vương lại nhường ngôi và trao lẫy nỏ thần cho Thạc công. Thạc công dời đô về đất Cổ Loa, gần quê mẹ, xưng là An Dương Vương…
Xin tiếp tục …
Tài liệu cổ ở Trung Quốc như Giao Châu Ngoại vực ký, Quảng Châu ký đều ghi: An Dương Vương là “Thục Vương Tử” (con vua Thục).
Một số sử sách cổ của Việt Nam như Việt sử lược (thế kỷ XIV) cũng ghi: ‘‘Cuối đời Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi mà lên thay. Phán đắp thành Việt Thường (Cổ Loa – Đông Anh – Hà Nội) xưng hiệu là An Dương Vương, không thông hiếu với nhà Chu”. Đến thế kỷ XV, khi biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư – Ngô Sĩ Liên dựa vào Lĩnh Nam chích quái chép về An Dương Vương rõ hơn và gọi là “Kỷ nhà Thục”, ông viết: “An Dương Vương họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê (nay là Cổ Loa). Giáp Thìn, năm thứ nhất (257 năm trước công nguyên). Vua đã kiêm tính nước Văn Lang đổi quốc hiệu làm Âu Lạc”.
Thuyết Ai Lao Di gợi ý một nước Tây Thục mà cư dân là giống người Bộc, người Lào ở sát nước ta về phía Tây Bắc nay thuộc châu tự trị Đức Hoằng, tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).
Thạc công chỉ là tam sao thất bản của Thục công , Thục chỉ phía Tây , Thục công là con Thục vương , Thục vương đồng nghĩa với Tây bá tức ông Cơ Xương .
Thông tin Thục vương là Bộ chủ Ai Lao , thời xưa người Việt gọi chúa là Bộ chủ , Theo phép phiên thiết : Ai lao thiết Âu chỉ tộc Âu trong Liên minh Âu – Lạc .
Cuối thời nhà Ân , Tây bá hầu Cơ Xương thống nhất 2 vùng đất của Tây bá và Bắc bá hầu- Sùng Lãm , kết hợp 2 tộ̣c họ Âu và Lạc lập nên nước Âu – Lạc đóng đô ở Phong châu gọi đấy là Phong kinh . Cơ Xương mất con là Cơ Phát kế ngôi .
Sử thuyết Hùng Việt cũng nhận ra Bộ Ai lao còn được gọi là nước Câu Đinh nước của ông Tây bá cùng thời với các nước Câu Ngô và Câu Tiễn , đinh trong tên nước Câu Đinh là định – tĩnh chỉ phía Tây đối nghịch với Động ở phía Đông . Câu là biến âm của Cao tức Cao Cả chỉ thủ lãnh .
Cuối đời ông Cơ xương nhà Ân đã hủ bại lắm rồi , dân Thiên hạ đói khổ lầm than lhắp nơi ; dù rất muốn nhưng Cơ Xương mắc cái tròng là con rể nhà Ân đã không dám động binh diệt ác , khi Cơ Phát lên ngôi chúa nước Âu Lạc thì không thể chần chừ được nữa đã huy động binh lực các nước phía Tây diệt Trụ vua cuối cùng nhà Ân cứu muôn dân Thiên hạ .
Cơ Phát vua thứ II nước Âu – Lạc là vua kiến lập nên nhà Châu của Thiên hạ , sử gọi là Châu Vũ vương , từ Vũ ưà kí âm chữ Nho từ vua tiếng Việt . Châu Vũ vương truy phong cha Cơ Xương làm Châu Văn vương tức vương tổ nhà Châu .
Trong sử Việt Cơ Phát biến thành Thục Phán trong đó Thục chỉ đất phía Tây của ông Tây bá tức nói ông Cơ Xương chính là Thục vương , Thục Phán là Thục vương tử chính là nói Thục Phán là ông Cơ Phát con Cơ Xương vương tổ nhà Châu .thời nhà Ân Cơ phát còn có tước hiệu là Ninh vương .
Châu Vũ vương dời đô từ Đất Phong về đất Kiểu hay Cảo , Kiễu hay Cảo chỉ là biến âm cuả cửu – số 9 Dịch tượng chỉ phía Tây trong Hà thư .
Hùng phả Thục Phán – Cơ Phát là Hùng Ninh vương – Thừa Văn lang
Danh hiệu Thừa Văn lang nghĩa là người kế thừa ngôi vua của Văn vương Cơ Xương nhà Châu .
Chính danh xưng này đã nối kết rõ ràng 2 dòng :sử Việt và sử Thiên hạ .
Ninh vương là nhân vật của lịch sử Thiên hạ (gọi sai là sử Trung hoa ),Văn lang là tên nước ‘Ta’ thời xưa , Văn lang đồng nghĩa với Văn vương gọi là nước Văn lang tức coi đó là nước của Văn vương -vua Văn , tên khác là Âu – Lạc ý nói nước của 2 tộc họ Âu – Ai lao và Lạc tức Nác – Nước (vật chất ).
Về Châu vũ vương ở An Nam còn lưu truyền giai thoại :
Làng Vân ở Bắc Giang Việt Nam có tổ nghề nấu rượu là bà Nghi Điệt (có tư liệu chép là bà Nghi Định) . Làng Vân nổi tiếng từ xưa bởi rượu ngon “Vân hương mỹ tửu” , người dân truyền miệng rằng bà là vợ cả của Vũ Vương, vì chồng bà thích uống rượu, nên bà đã tìm cách chế men cất nên thứ rượu ngon này, rồi đem truyền lại cho người ‘làng Vân’ để lưu truyền hậu thế…
Việt ngữ có những biến ảo kì lạ …
Văn lang > lang̀ Văn rồi thành làng ̀ Vân ,
Làng Vân chuyển ngữ thành Vân hương .
bà Nghi Địch vợ Vũ vương trong sử Trung hoa biến thành bà Đỗ thị Ngoan – Đoan trang công chúa ‘Hương Vân cái bồ tát hoàn toàn Việt Nam ; .thực kì diệu..

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét