Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang đầu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trang đầu. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 22 tháng 9, 2024

Tổng kết về trống đồng và dòng giống Hùng .

 Phần 1 : Giải mã Mặt trống đồng Ngọc lũ .

Trống đồng có nhiều hình dạng , nhiều thời do đó cũng nhiều mảng thông tin khác nhau,  bài này viết về thông điệp trên mặt trống đồng NGỌC LŨ.
 Tổng kết về trống đồng và dòng giống Hùng . Mat-trong-dong
Mặt trống gồm 1 tâm và 3 vòng đồng tâm .
A / – Tâm trống nói : các cành hay các chi có thể có nhiều nhưng quy lại chỉ có 1 gốc 1 giống dòng , 1 tổ tiên .
Tâm trống thể hiện ý thức về nguồn cội  của người họ Hùng .
Tâm trống là mặt trời đang chiếu sáng , vòng tròn số 1 là cảnh sống , sinh hoạt của con người .
Tâm trống đồng luôn luôn là mặt trời , mọi kiểu trống mọi thời đại đều như thế ; điều  này cho thấy có sự thống nhất và xuyên suốt  nguyên tắc cơ bản trong hệ tư tưởng Việt : Mặt trời là trung tâm vũ trụ cũng chính là hình ảnh đại diện cho ‘ông trời’ siêu hình .
Ông Trời là đấng tối cao mà quyền năng chi phối tất cả nhưng lại thân thiết gần gũi như cha mẹ nên người Việt  hay gọi … “Trời đất ơi.-.cha mẹ ơi.”
Mặt trời phát ra ánh sáng cũng là phát ra sự sống , trong tiếng Việt ‘sáng’ và ‘sống’gần như là một âm , phần hồn tức anh linh nơi con người chính là 1 phần của cái khối sáng vĩ đại ấy  đến trái đất nhập vào thân xác vật chất thành ra con người sống động …có thần , thần tính ấy được quẻ Kiền gọi là Long hay con Rồng ,6 hào là hình ảnh tượng trưng của  6 giai đoạn bay lên từ đất tới trời cao .
Khi đã đi hết đoạn đường trần thế thì xác trả về cho đất hồn trở về trời chính vậy mà mặt trời với người Việt trở thành chốn linh thiêng  vì tổ tiên ông bà ngự  nơi đấy , 
Quẻ Lôi địa Dự viết : ‘lôi xuất địa phấn tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức ân tiến chi thượng đế dĩ phối tổ khảo’ cũng là lẽ này ; câu dâng lên trời mà cũng là để ông bà mình hưởng …. đã chỉ ra : anh hồn tổ tiên đang ở chung với ông trời hay đấng tối cao …
Với nhân sinh quan như vậy nên người Việt là dân tộc có hiếu nhất thế giới , chữ hiếu được nâng hẳn  lên thành 1 tôn giáo : gọi là đạo ‘Hiếu’ hay đạo thờ ông –bà…,
Cao nhất là thờ ông ‘Thiên’ tổ của cả loài người , với quốc gia thì thờ quốc tổ , làng thì thờ ‘thành hoàng’, tộc họ thì có nhà thờ họ và trong mỗi nhà đều có bàn thờ ‘gia tiên’….trong nhân sinh quan người Việt thì …qúa khứ -hiện tại – tương lai  sống và chết  là sự biến đổi tiếp nối tuần hoàn không có chấm dứt , thế nào rồi cũng có ngày phải về gặp các cụ …. lúc đó ….ăn làm sao nói làm sao ? chính vì vậy nên phải lo liệu ngay từ bây giờ….công đức tạo nên không phải chỉ để cho đời này mà là công đức cho mọi đời ….ngoại trừ những tay ‘siêu bịp’ thì ai được kính trọng ở đời này ắt cũng  được kính trọng ở đời sau và ngược lại kẻ bị người đời nguyền rủa thì cũng sẽ bị nguyền rủa đời đời .

Quảng cáo


B /- Vòng đồng tâm thứ 2: xướng danh dân tộc .
Ỷ nghĩa của vòng này chỉ ra : người họ Hùng hay dân tộc Hùng có  2 chi tộc ;  La và Kinh tựa  như 2 đầu của la bàn Phong thủy , La và Canh tuy 2 mà chỉ là 1 , chi tộc La sống trên đất Đào cũng gọi là đất An  ở về phía Xích đạo còn chi Canh hay Kinh sống ở đất Đường hay Thường cũng là đất Lạc – nước ở về hướng đối diện .

 Tổng kết về trống đồng và dòng giống Hùng . 112 Tổng kết về trống đồng và dòng giống Hùng . 111-1
  • – 6 người tượng trưng cho chi tộc Kinh phía Bắc nay , phía Nam xưa của Dịch học 
    –  7 người chỉ chi tộc La  sống̉ phía Xích đạo 



  • C *  Vòng đồng tâm thứ 3 :chỉ rõ  quốc gia đã chế tạo trống đồng và là  chủ nhân của nền văn minh trống đồng tức văn minh phương Đông .
    Là người Việt không ai mà không biết huyền tích Kinh dương vương kết duyên cùng Long nữ con gái Động đình quân, như đã nói ở những bài trước trong sử thuyết họ HÙNG , Kinh dương vương nghĩa là vua phương Nam, Long nữ hay Long mẫu con gái Động đình quân vua phương Đông , sự hợp huyết 2 dòng phương Nam và phương Đông là sự hoàn tất việc đúc kết tạo nên người Việt , cũng vì lẽ này người Việt rất đỗi tự hào khi nhận mình là ‘con Rồng cháu Tiên’ .
    Những thông tin tạo nên tuyền thuyết này ̣đều xuất phát từ Hà thư .



Trong đồ hình Hà thư . số 6 hay 6 nút trắng nằm ở phía nam , số 8 nằm ở phía đông.
Phương Nam ngoài số 6 còn có số 1 nên phương nam còn là phương của đế Tiên hay bà Vũ Tiên vì lẽ này người Việt mới nhận mình là ‘cháu Tiên’.
Theo hậu thiên bát quái phương Nam số 6 còn là phương của nước tức quẻ Khảm .

 Tổng kết về trống đồng và dòng giống Hùng . 8-quai
Nước tiếng Việt cổ là nác-lác → Lạc .đây chính là từ Lạc trong lạc long quân và Lạc Việt .
Trong Hậu thiên bái quái phương đông số 8 là quẻ Chấn hay Thìn tức con Rồng ,Hoa ngữ là Long .
Tới đây đã rõ câu : con cháu Tiên-Rồng hay dòng giống Lạc –Long là chỉ sự hợp nhất giữa 2 dòng người họ Hùng ở phương Nam số 6 và phương Đông 8  theo Hà thư vào thời Hùng Việt vương – Tuấn lang .
Mặt trống đồng Ngọc lũ đã thể hiện những thông tin lịch sử này ở vòng tròn thứ 3
bởi nửa vòng tròn khắc hình 6 con chim và 10con nai và nửa vòng tròn còn lại là 8 con chim và 10 con nai . Ở đây tiền nhân người Việt đã sử dụng những nút số  của Hà thư , đặc biệt số 10 lại không được coi là 10 ( số chẵn ) mà coi như là 2 số 5 là số lẻ .
Các nút trắng – chẵn của Hà thư được thay thế bằng hình Chim và nút đen –lẻ được thay thế bằng con nai .
Nhìn lại Hà thư với các nút chẵn :

 Tổng kết về trống đồng và dòng giống Hùng . Ha-thu-ngang
10 con nai và 6 con chim chỉ người họ Hùng phương nam:con cháu của Kinh dương vương
Quảng cáo


10 con nai và 8 con chim chỉ người họ Hùng phương Đông .con cháu của Long nữ hay Long mẫu .
Ý nghĩa thể hiện ở vòng tròn đồng tâm thứ 3 trên mặt trống đồng chính là sự tự xưng danh tánh của chủ nhân trống đồng Ngọc lũ , dân tộc ấy chính là dòng giống Tiên –Rồng hay Lạc – Long , Tiên – Long . xác lập bởi các cặp số số (6/10) và số (8/10).
Nếu không có số 10 chỉ dùng số 6 và số 8 sẽ bị  hiểu là :người nước ngoài ở phía nam và ̣đông nước ta ;
Người Việt xưa đã thêm mẫu số 10 để nói rõ đấy là : người họ HÙNG thuộc chi phương Trung-nam và chi phương Trung-đông .
Trong 18 đời Hùng vương thì Hùng Việt vương – Tuấn lang chính là Sơn tinh hay Tản viên Sơn thánh quốc chúa đại vương . , ‘Tuấn’ là tên chữ ký âm của ‘Tản’ tiếng Việt .
Sơn tinh cũng là 1 Kinh dương vương ( canh=6 , giêng = 1)  nghĩa là chúa phương nam vì  trong Tiên thiên bái quái quẻ Cấn là sơn – núi chỉ phương nam .
Truyền thuyết nói Kinh dương vương kết duyên cùng Long nữ như đã xác định ở vòng tròn thứ 3 mặt trống đồng Ngọc lũ phải chăng là nói về sự thống nhất dòng Tiên và rồng để tạo ra ‘dòng giống tiên Rồng’ ở triều đại Hùng Việt vương – Tuấn lang ?.( xin xem Sử thuyết họ HÙNG ), từ người VIỆT bắt đầu có từ đây .
D /- Vòng đồng tâm thứ 4: ước vọng Dân tộc trường tồn .

 Tổng kết về trống đồng và dòng giống Hùng . Mat-trong-dong
Vòng đồng tâm thứ 4 cũng là vòng ngoài cùng  của mặt trống đồng có tổng cộng 18 cặp chim , mỗi cặp có 1 chim lớn đang tung cánh bay và 1 con chim nhỏ đang tung tăng trên mặt đất ., từng cặp như vậy nói lên sự nối tiếp liên tục hễ tre già thì măng mọc , cha mẹ già khuất núi thì con cháu lớn lên cứ như thế mà tiếp nối mãi .
Trong Dịch học Chim Hạc hay Hồng hạc là chữ của Điểu thú văn chỉ Trời cao ,thời gian và những yếu tố văn hóa phi vật thể , Hà → hạc .
Con nai Hoa ngữ là Lộc biến âm của lục là số 6 cũng là Đất cũng là chữ điểu thú văn dùng chỉ : đất , không gian và những yếu tố văn hóa hữu hình hữu thể .
Những cặp chim ở vòng tròn thứ 4  trên mặt trống đồng Ngọc lũ là loài chim DIỆC .
DIỆC là phát âm của người nam bộ , âm bắc là VIỆT .chính là từ Việt trong đế hiệu Hùng Việt vương – Tuấn lang ?.
Số 9 là cửu , cửu cũng có nghĩa là lâu dài , 18 là trùng cửu ( 9×2 ) đồng âm với trường cửu .nghĩa là mãi mãi bất tận ., điều này xin đừng vội cho là cưỡng ép vô lối vì chính người Hoa cũng hay dùng lối đồng âm gán nghĩa này như : họ kiêng số 4 vì đọc là tứ cận âm với tử là chết , bạn cũng đừng ngạc nhiên khi họ tặng bạn chiếc quan-tài…vì quan ở đây được hiểu là sự thăng quan tiến chức , tài hiểu là tấn tài tấn lộc nghĩa là chúc có thêm tiền ….
-Chim diệc đang tung cánh bay là chỉ dân tộc Việt trong vòng thời gian ..
-Mỗi cặp chim 1 trưởng thành 1 còn non chỉ sự nối tiếp kế thừa .
-18 cặp là Trùng cửu ( 2 lần 9 ) cũng là trường cửu .
Vòng đồng tâm thứ 3 trên mặt trống đồng Ngọc lũ với 18 cặp̣ chim Diệc là bản văn  ngắn gọn nhưng rất rõ ràng :


“ DÂN TỘC VIỆT ĐỜI SAU NỐI ĐỜI TRƯỚC CỨ NHƯ THẾ TỒN TẠI MÃI MÃI ”
Phần 2 : ý nghĩa lịch sử của cặp quẻ khom – dã 
Cặp quẻ này có xuất phát từ hình ảnh dân dã : khom lưng-dã gạo , chữ ‘dã’ liên quan chặt chẽ với đạo chày – cối tức trai-gái , âm-dương của dịch học họ HÙNG Quẻ Dự hay dự phần = Lôi / Địa

 Tổng kết về trống đồng và dòng giống Hùng . Image011
Dự Nghĩa là tham gia vào là cùng trời cùng đất tạo thành bộ mặt vũ trụ, tài nhân ngang hàng tài thiên, tài địa trong thế tam tài.
a. Lời Quẻ
Dự: Lợi kiến hầu , lợi thành sư.
Quẻ dự tạo thành bằng quẻ lôi trên quẻ địa, sấm nổ trên đất đấy là tượng của cái trống đồng.
Lợi kiến hầu nghĩa là dùng vào việc phong tước hầu. Hiện nay có những nhà nghiên cứu lịch sử cho trống đồng là một biểu tượng vua ban khi phong tước cho các công hầu, nó tựa như một loại ấn tín vậy, đặc biệt trong lễ nghi đạo hiếu của Việt Nam thì các bậc vương hầu dùng trống đồng thay mặt người dân của mình để tế tổ tiên của cộng đồng. Chữ lợi ở đây có nghĩa là: dùng để
Lợi kiến hầu: dùng trong việc phong tước hầu .ngờ rằng sau chữ LỢI còn chữ DỤNG nhưng đã bị bỏ mất
Lợi hành sư: dùng để hành quân, quân theo tiếng trống mà tiến hoặc lùi hoặc sang phải, sang trái… công hoặc thủ v.v… trống trở thành một công cụ dùng trong quân sự.
b. Lời tượng:Lôi xuất địa phấn dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo.
Sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đạo đức, long trọng dâng lên thượng đế cùng với anh linh tiên tổ.
Trống đồng còn gọi là trống sấm khi đánh để úp xuống đất nên lời tượng bảo: lôi xuất địa phấn, tiên vương tức tiên đế nhà Chu là Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công v.v…
Với chữ Tác nhạc cho thấy rõ ràng trống đồng là một nhạc cụ dùng trong các buổi lễ tế, nó chính là tổ tiên của văn hóa cồng chiêng ngày nay.
Nhiều nhà nghiên cứu vẫn còn đang đặt câu hỏi: trống đồng dùng để làm gì hay công dụng của nó ra sao, lời quẻ và lời tượng quẻ dự đã chỉ rõ ngay 3 công dụng:

[list=wp-block-list][*]Trống đồng dùng như một lệnh bài sắc phong tước vị.
Dùng làm hiệu lệnh điều quân.

[*]Dùng trong âm nhạc ở các buổi tế lễ long trọng.
[*]Chỉ với những khám phá trên đủ khẳng định dịch học không phải là của Hán tộc, một dân tộc sống ở lưu vực Hoàng Hà không hề biết trống đồng là gì.
Những chiếc trống đồng vô tri vô giác thông qua Kinh Dịch trở thành linh khí của người Việt vì qua đấy người Việt có thể tìm ra anh em và tìm về với tổ tiên như Quẻ Lôi địa Dự viết :
Lời tượng: Lôi xuất địa phấn dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo.

[/list]
  • Sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đạo đức, long trọng dâng lên thượng đế cùng với anh linh tiên tổ.
    Trống đồng còn gọi là trống sấm khi đánh để úp xuống đất nên lời tượng bảo: lôi xuất địa phấn, tiên vương tức tiên đế nhà Chu là Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công v.v…
    Với chữ Tác nhạc cho thấy rõ ràng trống đồng là một nhạc cụ dùng trong các buổi lễ tế long trọng.
    Lời Quẻ : Dự: Lợi kiến hầu , lợi thành sư.

  • Quẻ dự tạo thành bằng quẻ lôi trên quẻ địa, sấm nổ trên đất đấy là tượng của cái trống đồng.

Lợi kiến hầu nghĩa là dùng vào việc phong tước hầu. Hiện nay có những nhà nghiên cứu lịch sử cho trống đồng là một biểu tượng vua ban khi phong tước cho các công hầu, nó tựa như một loại ấn tín vậy, đặc biệt trong lễ nghi đạo hiếu của Việt Nam thì các bậc vương hầu dùng trống đồng thay mặt người dân của mình để tế tổ tiên của cộng đồng. Chữ lợi ở đây có nghĩa là: dùng để
Lợi kiến hầu: dùng trong việc phong tước hầu .ngờ rằng sau chữ LỢI còn chữ DỤNG nhưng đã bị bỏ mất
Lợi hành sư: dùng để hành quân, quân theo tiếng trống mà tiến hoặc lùi hoặc sang phải, sang trái… công hoặc thủ v.v… trống trở thành một công cụ dùng trong quân sự.
Tóm lại : Tộc người nào có xử dụng trống đồng tộc đó là anh em của ‘ta’ vì cùng cúng tế 1 tồ tiên . Nơi nào có trống đồng thì đó là đất của ta vì thủ lãnh nơi ấy do vua ‘ta’ phong tước . Tới đây thì ta hiểu rõ tại sao vua Đông Hán ra lệnh cho mặt ngựa ( Mã Diện hay Viện ) tịch thu và phá hủy cho bằng hết trống đồng của người Việt .; ý đồ của chúng là  biến người Việt thành đám con hoang không cội nguồn đồng thời chặt đứt ước nguyện  trường tồn của dân tộc này …nhưng trời xanh có mắt…

  • Phần 3 : Trống đồng , Dịch học và sử Hùng Việt .
    ·Việc giải mã được những thông tin chứa trên mặt trống đồng Ngọc lũ đưa đến hệ qủa hết sức quan trọng với người Việt :
    Việc giải mã được những thông tin chứa trên mặt trống đồng Ngọc lũ đưa đến hệ qủa hết sức quan trọng với người Việt :Về cốt lõi của Sử thuyết Hùng Việt xin quy tập lại theo chủ đề : Trống đồng và Việt sử .
    Trống đồng là một trong những loại di chỉ khảo cổ học quan trọng nhất tìm được tại Đông Nam Á và phía Nam Trung Quốc. Trong các vùng này, các nhóm dân tộc đã sử dụng trống đồng từ thời tiền sử cho đến ngày nay. Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy trống đồng ở nhiều vùng khác nhau ở Đông Nam Á,
    Bắc Việt Nam và Tây Nam Trung Quốc (đặc biệt là tỉnh Vân Nam và khu tự trị người Tráng ở Quảng Tây là hai vùng nơi đại đa số các trống đồng cổ đã được tìm thấy. Ngoài ra, trống đồng còn được tìm thấy ở nhiều nước khác như: Indonesia, Thái Lan, Myanma, Lào, Campuchia, Malaysia, Philippines và mới đây là Đông Timor.
    Nhà khảo cổ học người Áo Franz Heger đã phân loại trống đồng thành Trống Heger I ,Trống Heger II , Trống Heger III , Trống Heger IV , trong đó Trống Heger I là cổ nhất có niên đại gần 3000 năm cách nay .
    Năm 1976, người ta phát hiện loại trống nhỏ ở Vạn Gia Bá Trung Quốc và đặt tên là trống Vạn Gia Bá. , giới nghiên cứu Trung Quốc coi loại trống này là trống Tiền Heger nghĩa là có trước trống Heger I và là nguồn gốc của mọi loại trống Heger .
    Giới nghiên cứu Việt nam , Trung quốc và nhiều học gỉa quốc tế khác đến nay vẫn đang tranh luận về quê hương của trống đồng , tựu trung hiện đã khoanh vùng và đi vào điểm then chốt : quê hương trống đồng là Bắc Việt nam hay Quảng Tây – Vân Nam , nói cách khác… cuối cùng kết luận :Trống đồng là sản phẩm của tiền nhân người Việt hay người Hán .
    Trống đồng là trống làm bằng đồng chính xác hơn là hợp kim đồng thiếc và chì, khi dùng phát ra âm thanh như tiếng sấm nên còn gọi là ‘trống Sấm’ , xa xưa người Việt không gọi là trống mà gọi là ‘cối đồng’ , người Trung quốc gọi là ‘đồng cổ’ , từ ‘cổ’ hiện được dịch sang Việt ngữ là ‘trống’ có thể không chính xác , bản thân từ cổ cũng chỉ là kí âm chữ Nho của từ cối tiếng Việt . chày – cối Hán ngữ đọc là chử – cửu , cửu biến âm thành cổ ….thế là cối biến thành trống theo chữ nghĩa hiện nay .
    Người ta lấy đườnh biên Việt Trung hiện tại để phân định trống đồng gốc gác là của người Việt hay Hán là chuyện tầm phào rất ấu trĩ , gần ngàn năm trước công nguyên lúc trống đồng được làm ra làm gì có đường biên này ?.
    Cứ cho sử Trung quốc đang lưu hành́ là chính xác thì trống đồng Tiền Heger và Heger I làm ra vào thời nhà Châu .



 Tổng kết về trống đồng và dòng giống Hùng . Zhou_dynasty_1000_bc_vi-a
hình lấy từ internet.
Với bản đồ nhà Chu trên thì rất rõ ràng người Trung quốc không thể nào là người đã làm ra trống đồng hay đồng cổ vì cho đến tận thời Chiến quốc thì Trung quốc cũng chỉ mới biết tới vùng đông Nam với 2 nước Ngô và Việt .
Với người Việt thì tiền nhân di ngôn về lãnh thổ cụ thể và rõ ràng : cứ tạm y như sách vở chép : nước Văn Lang Bắc giáp Động đình hồ , Nam giáp Hồ tôn , Tây tới Thục (Tứ xuyên) và Đông giáp Nam hải .

 Tổng kết về trống đồng và dòng giống Hùng . Vanlang
Không thể nói khác : chính người Văn Lang đã làm ra những chiếc trống đồng mà ngành khảo cổ tìm thấy ở Vân Nam Quảng Tây và Bắc Việt Nam .
Sử kí Tư Mã Thiên có ghi thông tin về việc vua nhà Chu cho Tần Mục Công một chiếc trống đồng vào năm 623 trước công nguyên , năm này vua Chu đang ở tận Thiểm Tây lấy đâu ra trống đồng …mà cho Tần công để làm gì ; Trống đồng đâu có gía trị qúy báu gì trong nền văn minh Hán , chẳng thế mà Mã viện đã đập bỏ nấu chảy cả đống trống đồng …
Đúng thực tổ tiên người Choang Đồng xưa đã chế tạo trống đồng ở Vân Nam Quảng Tây trong thời văn minh Văn lang – Âu Lạc tức không liên quan gì đến văn minh Hán , dĩ nhiên chằng dính dáng gì đến Trung quốc ngày nay . Tình cảnh Con cháu người Âu trong Âu Lạc thực là bi đát , người Trung quốc có thời gọi là Ai lao di theo nghĩa man Di chứ đám chăn ngựa rợ ‘thứ thiệt’ không hề biết : ai lao thiết Âu chính là chi tộc Âu trong nước Tây Âu – Lạc Việt , ngày nay họ được gọi chung là người Choang Đồng đang thực sự là những người ‘thất sở thân sơ’ ngay trên quê hương mình , Cách mạng Tân hợi đã giải phóng họ khòi kiếp nô lệ phục hồi địa vị làm người nhưng Choang Đồng vẫn chỉ là 1 dân tộc thiểu số không được kề đến trong 5 dòng tộc người Trung quốc là : Hán Mãn Mông Hồi Tạng … như thế xét ra thì quê hương Trống đồng chẳng liên quan gì đến Trung quốc và văn minh Trung quốc dù ngàn năm trước công nguyên được làm ra ở Vân Nam Quảng Tây .
·- Tổng luận
Tới nay với nhiều thông tin thu thập được
Đã có thể xác quyết : Kinh Dịch mô tả trống đồng ở quẻ Lôi địa Dự và ngược lại mặt trống đồng chính là 1 phần đồ hình Hà thư (đô)̀ Dịch học .
Xét ra như thế thì không chỉ trống đồng là thành tựu vật chất tiêu biều của văn minh Văn lang mà kinh Dịch cũng là thành tựu trí tuệ của tiền nhân người Việt xa xưa .
Kết luận này rất quan trọng vì đây là chiếc chìa khóa mở cánh cửa đi vào qúa khứ dòng giống Việt nói chung .
Kinh Dịch là trước tác của tiền nhân Việt thì tất nhiên cả Ngũ kinh Thi Thư Lễ Nhạc cũng là của người Việt và quan trọng hơn tất cả thông tin ghi chép trong Ngũ kinh đều thuộc về lịch sử và văn minh Việt . Tứ thánh làm nên kinh Dịch Phục Hy Văn vương Châu công Khổng tử đương nhiên là tiền nhân người Việt không cần bàn gì nữa .
Về lịch sử thì kinh Thư chính là cuốn sử đầu tiên vô cùng qúy gía của dòng giống Việt như vậy các vua từ Nghiêu Thuấn cho tới Tần Mục công năm 659 – 621 TCN chép trong kinh Thư dĩ nhiên là vua Việt không thể nào khác được .
Có thể nói : rấr rõ ràng lịch sử cổ đại Trung Hoa đang lưu hành chính là cổ Việt sử ‘

  • ‘con Rồng cháu Tiên’ không còn là truyền thuyết lịch sử mà chính thức trở thành lịch sử , một lịch sử được ghi chép rõ ràng trên sách ‘đồng’  bằng ngôn ngữ Dịch học đã phổ biến – lưu truyền 3000 năm nay .
    Truyền thuyết lịch sử Việt không phải chỉ có 1 chuyện ‘con rồng cháu tiên’ mà là cả 1 hệ thống những truyền thuyết tương đối hoàn chỉnh chứa đựng những thông tin của 1 thời gian dài mà ngày nay gọi là thời tiền sử , chỉ cần minh xác được 1 đọan trong cái chuỗi thông tin liên hoàn ấy cũng đủ để ta lượng gía  về  tính xác thực của cả hệ thống truyền thuyết lịch sử đang lưu truyền. .

  • Lịch sử và văn minh Việt có liên hệ ‘máu thịt’ với dịch lý từ khi người Hán chưa đặt chân tới mảnh đất này , những trống đồng cổ nhất có đến 3000 năm tuổi đã trở thành vật chứng chắc chắn -rõ ràng nhất giúp khẳng định : 
  • Dịch học là thành tựu trí tuệ tuyệt vời của tiền nhân người Việt ngày nay ..


Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2024

Vài dòng tóm tắt …thời tiền sử Việt – (viết lại ) .

 

Người Việt có câu :

Trăm năm bia đá cũng mòn

Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ ...

Bia đá mòn thì chữ tác đánh chữ tộ ..., ngàn năm bia miệng vẫn còn nhưng chắc chỉ còn phần cốt lõi còn chi tiết thì thường là bị ‘thời đại hóa’.

Bia miệng về lịch sử dân tộc Việt đã qua 5 &6 ngàn năm chắc cũng không tránh khỏi sự thay đổi chi tiết , phần cốt lõi lịch sử là chất ‘bột’ để dần theo thời gian dân gian dệt nên ‘hồ’ , lịch sử khô khan được thi vị hóa , siêu nhiên hóa và thời đại hóa biến thành truyện , truyện thì dễ kể dễ nghe và dễ nhớ cứ như thế mà truyền từ đời này sang đời khác ngàn vạn năm vẫn còn trong ký ức con người nhưng như đã nói ...chỉ còn phần cốt lõi còn chi tiết thì có thể đổi khác , lâu ngày thậm chí lẫn lộn sự kiện và thời điểm nên càng xa về sau thì sự phục nguyên càng khó .

Cho dù là khó nhưng không phải là không thể , đem truyện mà so sánh đối chiếu thông tin với các nguồn khác như truyền thuyết lịch sử Việt , cổ thư Trung hoa và những thành tựu của khoa học tiên tiến ngày nay trong nhân chủng , khảo cổ và nhất là di truyền học .v.v. việc phục nguyên phần sử trong truyện là hoàn toàn có thể ...

Trích đoạn truyện họ Hồng bàng – Lĩnh nam trích quái ...

.. “Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Kinh Dương Vương không biết đi đâu mất”....

Chỉnh sửa phục nguyên :

Đế Minh còn gọi là đế Hoàng (màu vàng chỉ trung tâm) là cháu 3 đời của Thái Viêm – Thần nông (thái = tổ phụ) sinh ra đế Nghi (nhì , vua thứ nhì) còn gọi là đế Nghiêu nhân đi tuần về phía Nam đến vùng Ngũ Lĩnh (vùng số 5 chính giữa của Lạc đồ) mừng gặp và lấy được con gái bà Vua Tiên ( truyện viết thành bà Vụ Tiên ) rồi trở về, sinh ra Lục tộc hay Lạc tộc truyện viết thành Lộc Tục (Lục là số 6 , Lạc là nác – nước là 2 Dịch tượng chỉ phương Nam) . Đế Minh liền lập Đế Nghi làm vương cai trị đất phương Bắc gọi là Viêm lang (viêm =nóng) , phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam gọi là Quan (Quang) lang (quan = nom- nam)...thông tin này của truyện trái hẳn với cổ thư Trung hoa ;đế Nghi có tước Đường hay Thường vương có sách chép là Đường hầu (Thường ≠cao) nghĩa là người cai quản phương Nam , Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi; Đế Nghi tức Đế thứ Nhì của Hữu Hùng quốc lên làm vua hiệu là Hùng Hy (hai) vương  hiệu nước là Xích Quỷ ; theo phép phiên thiết Xích qủy  thiết Sủy cũng là Thích qủy thiết Thủy tức nước Lạc - Nác Nước . đấy là triều Hùng vương thứ 6  đô là làng Cả ở Phú thọ , 

Triều đế Minh hay đế Hoàng theo Hùng phả là là Hùng vũ vương - Hiền lang hay Hiền vương , Hùng vương kí âm  sai thành Hiên Viên , đây là triều Hùng vương thứ 5 quốc hiệu là Hữu Hùng quốc tức nước của người họ Hùng . Đức Hùng Vũ vương tức vua Hùng thăng hà , mộ táng ở hang Bua – Nghệ An , bua là biến âm của Bố- Ba- vua nghĩa là người đứng đầu , ngày nay con dân dù đã qua 5&6 ngàn năm có thể đã quên cả sự tích nhưng vẫn thờ kính cúng giỗ hàng năm .

Hữu Hùng quốc truyền thuyết lịch sử Việt gọi là Bộ 10 - 5 (không phải 15 bộ) , Bộ là từ cổ đồng nghĩa với quốc nên người Việt xưa gọi vua là Bộ chủ hay Bộ chúa , chính xác là cặp số 10 - 5  là trung tâm Hà thư (đồ)  nơi giao hội của trời đất và tứ phương Thiên hạ , bộ 10-5 ngôn ngữ số của Dịch học có nghĩa là nước Giao chỉ chính giữa hay trung tâm Thiên hạ đồng nghĩa với Trung quốc .

Đế Nghi mất mộ táng ở đền Hùng núi Hy cương ngày nay sử sách gọi rõ là mộ của Hùng vương thứ 6, người Việt coi đấy là đền quốc tổ , hàng năm vẫn cúng giỗ trọng thể vào ngày 10 /3 âm lịch .(Giỗ tổ được chọn là ngaỳ 10/3 ...rất đơn giản : số 10 trong ‘Thập can’ là kỷ - Cả , kỷ →Kỵ nghĩa là ngày giỗ , số 3 là Ba - Cha - Bố ; hoặc tháng 3 là tháng Rồng , rồng là Vua ...,ngày 10/3 ...ngôn ngữ số giải mã là … ‘ngày giỗ cha’ ) , 

Đế Nghi hiệu là Hùng Hy vương , vua nước Xích qủy thiết Thủy  phải chăng vì thế nên người Việt viết ngài là  Hùng Lạc vương nơi đền Hùng vàmộ táng ở núi Hy cương .

Đế Nghi mang tước Đường vương tên thường gọi là ông Giao Thường nghĩa là ông...đất Giao phía nam (khác với đất Nam giao chỉ phía nam đất Giao chỉ ) nay là Bắc bộ Việt nam , đế Nghi ....mệnh Hy thúc trạch nam Giao...tức từ đất Giao chỉ – chỗ Giữa đế Nghi mở rộng biên cương về hướng Nam xưa ( nay lộn ngược thành Bắc ) cùng với ông Giao Thường Phía Bắc Giao Chỉ hướng Xich đạo do ông Cao Giao cai quản , Đế Nghi - Nghiêu thâu phục vùng đất mới gọi là vùng Nam Giao tức đất phía nam Giao chỉ ở Quảng tây ngày nay , vì vậy Quảng Tây còn có tên là đất Nam , sau Nam →Lam→Lâm , thời Tôn Quyền gọi Giao chỉ là Giao châu còn lưỡng Quảng là Quảng châu , quảng nghĩa là mở rộng ra .

Ông Diêu trọng Hoá là người hiền ở đất Lâm - Nam , (Diêu chỉ là cách biến âm tạo từ phân biệt với từ Giao mà thôi , Trọng là thứ 2 , Hoá là thâu hóa ; Diêu trọng hóa nghĩa là người thu đất Nam- Lâm nhập vào với Giao Chỉ ) được đế Nghi gả cho 2 công chúa là Nga Hoàng và Nữ Anh (truyền thuyết dân gian Việt gọi là bà Nữ Hoàng Anh) ...sau thời gian ‘kiểm định’ phẩm chất ....đế Nghi đã truyền ngôi cho ông Diêu trọng Hoá lập ra triều Hùng vương thứ 7 ; Hùng Thuận vương – Lâm lang sử sách thường gọi tắt là đế Thuấn .

Thủ đô ‘nước Ta’ thời đế Thuấn theo cổ sử là ‘Bồ bản’ thực ra Bồ bản chỉ nghĩa là cái ‘bản lớn’ (chưa xác định được ở đâu) tương tự như ‘làng Cả’ đồng nghĩa với ‘đại ấp’ nghĩa là thủ đô – kinh đô hay đô thành không phải là tên riêng .


Truyền thuyết về đế Thuấn có nhiều lắm , chỉ xin trích 1 đoạn ...

.....Khi cha bắt đi cày ở đất Lịch Sơn cốt tìm cách trừ đi, vì nơi đây có tiếng là nhiều thú dữ hay ăn thịt người. Nhưng tấm lòng hiếu thảo và hòa mục của Thuấn động đến lòng trời, cả đàn voi ra giúp Thuấn cày đất và muông chim vô số đáp xuống nhặt cỏ hộ. ...

Thuấn cày ruộng ở Lịch sơn ... theo An nam chí lược của Lê Tắc ....thì núi Phân mao nơi Mã Viện chôn cột đồng xác định ranh giới cực nam của Đông hãn quốc ở Quảng tây còn có tên là Lịch sơn và đoạn ...Cả đàn voi giúp đế Thuấn cày ruộng đã chỉ ra quê hương bản quán của đế Thuấn không thể ở vùng Tây bắc Trung quốc được, nơi đấy xưa nay chưa hề có voi .

Theo truyền thuyết, vua Thuấn đi tuần thú đất Thương Ngô ở miền sông Tương không may bị bệnh chết , Thương Ngô nay là Ngô châu đông bắc Quảng Tây . Đền thờ đế Thuấn ở núi Cửu nghi Nam Hồ nam gần đầm Vân mông và sông Tương .

Thời cổ đại, trị thuỷ để ổn định cuộc sống, phát triển việc cày cấy là việc cấp bách hàng đầu. Theo sử sách, Thuấn sai Cổn làm việc trị thuỷ. Cổn trị thuỷ không thành công nên bị Thuấn xử tội chết , gọi là ông Cổn thực ra là ông ‘Cản’ , nước lũ về mà đắp đê ‘cản’ không cho thoát thì làm sao khỏi lụt ?

Thuấn lại dùng con Cổn là Hạ Vũ trị thuỷ. Sau nhiều năm, Vũ đào vét 9 con sông đục bạt cả 1 phần qủa núi tên là Long môn sơn ngăn dòng thoát của nước , Hạ Vũ trị thuỷ thành công, vì thế được Thuấn chọn làm người kế vị. Thuấn không truyền ngôi cho con mình là Thương Quân mà trao ngôi báu cho Hạ Vũ.

Truyện viết như thế phản ánh sự thật là nước rút dần thời biển thoái ....có điều thú vị là Long môn nghĩa là cửa sông lại là địa danh của vùng sông Đà tiếp giáp với đồng bằng bắc bộ ngày nay xa biển nhiều lắm , Long môn sơn là núi ở cửa sông chính là tác nhân gây úng lụt vì thế khi ông Vũ đục bạt cả 1 phần qủa núi cho nước thoát tức thì... ‘trị thủy thành công’ ...tư liệu chép Đại vũ trị thủy ở Hắc thủy , Hắc thủy là tên khác của sông Đà ở Việt Nam .  nơi vua Đại vũ đục bạt cả nửa ngọn núi là thác Bờ ngày nay , cửa ấy chính là Vũ môn mà cá chép hóa rồng khi vượt qua được .

Ông Vũ truyền thuyết Việt gọi là Sơn tinh và việc trị thủy thành công được ‘truyện hóa’ thành Sơn tinh chiến thắng Thủy tinh .

Được đế Thuấn Truyền ngôi , Sơn tinh – đại vũ lên ngôi lập nên triều Hùng vương thứ 8 hiệu là Hùng Việt vương – Tuấn lang , Việt nghĩa là vượt cụ thể là vượt lũ chiến thắng Thủy tinh cũng là từ Vượt của vượt Vũ môn ., Tuấn lang là viết sai của Tốn lang , Tốn là quẻ Tốn trong 8 quái chỉ gió và phương Tây , vì quẻ Tốn là Gío lịch sử mới có miền Phong châu , đất Phong và Phong kinh .v.v. và  tư liệu nói ông Vũ họ Tử , tử là Tây vậy . .

Qua bước mở rộng lãnh thổ theo hướng Bắc – nam đến thời Tốn lang lịch sử họ Hùng bước sang thời mở mang Đông – Tây.

Sự tích Tản viên Sơn thánh quốc chúa đại vương gắn liền với miền sông Đà núi Tản , Tản Viên chỉ là biến âm của Tốn vương tương tự Hiên Viên là Hiền vương vậy . Núi Tản viên – Tốn vương được người Việt coi là Linh địa phải chăng là nơi chôn táng Tuấn lang ? ; (Dân gian còn lưu truyền chuyện Cao Biền ...sớ rớ định trấn yểm long mạch đã bị ‘thánh vật’ hộc máu mồm dàn máu miệng xuýt toi ...) .

Đại vũ ông tổ của vương quốc Thiên hạ  thường bị lầm gọi lả Trung hoa   tên Việt là Cao Mật , Cao Mật chính xác là Cao Một nghĩa là vua đầu theo tiếng Việt là vì vua đã mở mang bờ cõi về hướng Tây tức đến đất Lào và có thể xa hơn nữa về hướng Tây , chính vì là ‘Cao Một’ nên sử sách Trung quốc mới gọi ông là Đại Vũ tức vua Lớn ,là tổ chung của tất cả các vương triều  không phải là Hạ vũ vua tổ của riêng vương triều Hạ , ngôn ngữ dân gian gọi ông Đại Vũ là Cái Cơ nghĩa là vua lớn  ...mảnh đất dành thờ ông gọi là đất ‘Cái cơ’ đã bị bẻ quặt biến âm thành Cối kê  đọc theo quan thoại thành ra Hội kế chẳng còn gì dính dáng tới tích xưa ...vua tổ - vua mẹ gì nữa cả ...

Xa về phía tây Giao Chỉ tới giáp Ấn độ khi xưa có nước Đốn Tốn ký âm Hán văn biến thành Điền Tuấn hay Điện Tuấn phải chăng chính là tiền thân của nước Miến Điện hay Diến Điện ngày nay ? ; Phải chăng người Miến Điện và người Lào cổ là con cháu chính dòng của Tản Viên Sơn thánh ?.

Việc vua Vũ là 1 Hùng vương bị ai đó ở vùng Tây Nam Trung quốc xiên sẹo ra ....chuyện ông Vũ khi chết biến thành con gấu lớn , hùng tiếng Tàu là con gấu .

Đại Vũ cưới vợ là Đồ Sơn thị nghĩa thực là ông Vũ lấy người đàn bà ở Đồ sơn ...., Đồ sơn xưa nay vẫn còn nguyên thuộc Hải phòng Việt nam , truyền thuyết Việt chép là Kinh Dương vương kết duyên cùng Long Nữ con gái Thần long Động đình quân vua vùng Động đình hồ tức biển Đông , điều này kết hợp với thông tin đế Thuấn đi cày ở Lịch sơn chỉ ra động đình hồ chính là vịnh Bắc Việt ngày nay , thông tin lịch sử của đoạn truyện này là chỉ sự hợp nhất 2 miền đông và Tây Giao chỉ thành 1 lãnh thổ thống nhất của con cháu nhà Hùng . Sự việc đưa đến người Việt thường nhận dòng giống mình có cha là Rồng mẹ là Tiên chính xác ra phải nói ngược lại là mẹ Rồng - Cha Tiên  vì mẹ là Long Nữ đích thị là Rồng còn cha là đại vũ Sơn tinh , thì chữ Tiên  là ghép bởi chữ Sơn là núi và Nhân là người mà thành .

Bố Sơn tinh – Đại Vũ và mẹ Long Nữ – Đồ sơn thị sinh ra Lạc Long quân , sử Trung hoa gọi là ông Khải , Lạc tức nác – nước chỉ vùng đất tây Việt và tây Quảng Tây , Long là rồng – quẻ Thìn cũng là quẻ Chấn chỉ đất ven biển đông là đất đồng bằng Bắc bộ và nam Quảng Tây cũng rất có thể xa đến tận miền Quảng Đông .

Theo phép ‘truyền hiền’ vua Đại vũ – Sơn tinh đã chuẩn bị chu đáo việc truyền ngôi cho ông Cao Giao thủ lãnh dân ở về phía ‘Xích đạo’ của Giao chỉ tức miền Thanh Nghệ Tĩnh ngày nay nhưng ông Cao Giao chết trước nên vua Vũ quyết định truyền ngôi cho con ông Cao Giao là bá Ích chính xác là ‘bá Ất’ , là số 2 của Thập can chỉ hướng nóng – xích đạo .

Đại vũ mất , triều thần không tuân theo di mệnh mà tôn ông Khải con Đại Vũ lên làm vua , dân Hữu Hổ thị tức người La - kẻ Lửa không phục vì thế nổ ra chiến tranh và phân ly ..., ông Khải chiếm đất An của kẻ La – Hữu Hoả thị lập kinh đô ‘đại ấp An’ nay chưa thể xác định .

 Triều đại của đế Khải là triều Hùng vương thứ 9 ; Hùng hoa vương – Hải lang .

Truyện viết 50 con theo cha xuống biển là chỉ phần dân phía đông Giao chỉ theo ông Khải – Lạc Long quân lập ra triều Hạ gọi là người Hoa Hạ .

Lạc – Long quân nghĩa là chúa của 2 dòng tộc ; ‘nước’ chỉ phía nam và ‘rồng’ chỉ phía đông , Hữu Hổ thị hay Hoả thị là người La hay Lửa chỉ dân sống ở phía xích đạo vì tội chống đối bị đày đi 4 phương trở thành Tứ Di . Di là biến âm của ‘dời’ tiếng Việt .

50 con theo mẹ lên núi là chỉ người La – hữu Hổ thị theo ông bá Ích di cư đến miền Kỳ sơn là miền đất giữa Qúy châu – Vân nam và Quảng Tây ngày nay , Sách vở Trung hoa gọi họ là người Liêu Tử (Liêu tử thiết Lửa , Lê La Lửa – Hoả Hổ chỉ là 1) , nơi sinh sống của người Liêu tử gọi là đất Lưu sa ( Lưu sa thiết La ) được nhiều tư liệu gọi là đất phía Tây của lãnh thổ Trung hoa thời Thương và Ân . (Lãnh thổ nhà Thương ...tiền Giao chỉ , Tây giáp Lưu Sa , đông giáp biển , hậu là Hàm đô ).

Con cháu nhà Hùng phân thành Hoa – Di từ đấy , Hoa là người sống ở đất giữa gọi là Trung quốc còn Di tức Nhì thứ nhì là tên gọi người sống ở tứ phương thiên hạ .

Lạc Long quân – đế Khải nay được thờ ở đền Đồng bằng tỉnh Thái Bình với tên gọi là ‘vua cha Bát Hải Động đình’ (theo Bách Việt 18) , cụm từ Bát hải động đình chỉ nghĩa là biển Đông (xin xem cả bài cũng trong web - blog này) , cuộc phân ly lần này được nhà nghiên cứu Bách Việt 18 coi là cuộc chiến Hùng _ Thục lần thứ I với chiến thắng thuộc về dòng Hùng , dòng Thục phải lưu vong đến Kỳ sơn .

Dòng nhà Hạ sau bị thủ lãnh xứ Nghệ (Nghệ An ?) là Hậu Nghệ cướp ngôi , Hậu Nghệ lại bị Hàn Trác giết chết và chiếm ngôi , Hàn Trác phong cho 2 con mình là chúa nước Qua và nước Qúa ; nước Qua và Qúa phải chăng là nước Lão Qua về sau , nay là nước Lào ? .

Thông tin ... xưa trên trời có đ̣ến 10 mặt trời , Hậu Nghệ đã dùng cung bắn rụng 9 cái chỉ còn lại 1 như ngày nay . Hậu Nghệ cũng đã diệt loài cá sấu cứu dân , 2 sự việc thực sự chỉ ra nước ta sau thời  lũ lụt kinh hoàng của ông Vũ trị thủy kiến quốc giờ đến thời hạn hán ghê gớm , đất đai khô cằn thì cá sấu đương nhiên chết ráo .

Sau thời Hậu Nghệ và Hàn Trác cướp ngôi tức chỉ là giai đoạn thiên tai khí hậu cực đoan mà thôi .

Nhà Hạ Trung hưng định đô  ở Dương thành  Quảng châu ngày nay truyền tới đời vua Kiệt là hôn quân nên bị Thành Thang diệt , Thành Thang xưng là Võ vương lập nên nhà Thương của Trung hoa . Kinh đô sau cùng của nhà Thương rất có thể là thành Tân Can ở bờ nam (nay) Trường giang , vua Bàn Canh đã dẫn dân nhà Thương vượt Giang về đất phía bắc Trường giang và lập đô ở Bàn long thành tức Bàn Canh Lang thành phía bắc (nay) Trường giang , từ đó sách sử gọi là nhà Thương Ân tức Thương thứ 2 ( Ân – Ơn đồng nghĩa với nhị ) . theo đồ hình Bát quái đối diện với can Tân ở hướng Xích đạo là can Canh nhưng bị ... ai đó cạo bỏ chữ Canh để cho Bàn Canh lang thành biến ra Bàn long thành , giấu biến thông tin chỉ dẫn vị trí mang trong bản thên tên gọi nhằm dễ bề đổi dòng lịch sử ....

Nhà Thương Ân dời kinh đô dần về phía Hoàng hà , tới thời vua Trụ đã vượt Hoàng hà lập biệt đô Triều ca ở Ân khư cực bắc tỉnh Hà nam ngày nay . Công ơn nhà Thương Ân với Trung hoa rất lớn cả 1 giải đất mêng mông lưu vực sông Hoài giữa Trường giang và Hoàng hà thuộc về Thiên hạ là nhờ công nhà Ân , dân trên đất ấy gọi là Hoài Di , giải đất phía tây nay là Tứ xuyên hay Tây xuyên xưa là nước Qủy phương của tộc Khang Tạng cũng do Cao Tông nhà Ân thu về   , trong việc diệt nước Qủy phương thì công lao cùa Vương Qúy tức Thục vương cha của Văn vương nhà Châu  rất lớn (Kinh dịch viết 1 ngày vua triệu kiến để bàn bạc đến 3 lần ).

Nhà Thương truyền đến đời vua Trụ thì hoang dâm tàn ác không thua gì hôn quân Kiệt nhà Hạ ....kết qủa nhà Thương Ân bị ông Cơ Phát – Vũ vương nhà Châu diệt .

Bá Ích hay Ất đưa người La định cư ở vùng Kỳ sơn , sau vùng này gọi là Kỳ châu biến âm thành ‘Cùi Chu’ tức Qúy châu ngày nay  lãnh thổ của nước Dạ lang tức  Di  hạ lang tư liệu Việt chép thành động Dã năng , đất này vì nằm ở phía tây Ngũ lãnh Trung tâm thiên hạ thời Thương ở Hồ nam nên gọi là đất Thục nghĩa là đất phía tây . ( lưu ý :Thục ≠ Xuyên thục ≠ Bá Thục) .

Vương Qúy tức Thục vương là cha của ông Cơ xương , ông nội của Cơ Phát hay Thục Phát , cổ sử Việt chép  Thục Phán là Thục vương tử đã cướp nước của Hùng vương lập nên nhà Thục trong dòng sử Việt , chính xác thì Thục Phát là Thục vương ‘tôn’ sau khi kế ngôi cha làm vua nước Văn vương hay Văn lang đã hiệu triệu các nước trong thiên hạ dấy binh diệt vua Trụ đánh đổ nhà Thương Ân Hùng triều thứ 11 , từ đó Thiên hạ thuộc về nhà Châu hay Chu .

Trong dòng Sử Việt thì ông Cơ Xương là Tây bá hay Thục bá hầu của nhà Ân , đất phong ban đầu là vùng Quảng Tây ngày nay có thể Trung tâm là vùng Vạn gia bá - Quảng tây , Ban đầu Thục bá mở rộng đất của mình về phía tây chiếm nước ‘Mật tu’ tức ‘Mặt Tây’ nay là Vân nam sau tiến chiếm nước Sùng của Sùng hầu Hổ , Sùng hầu Hổ cổ sử Việt gọi là Sùng Lãm là Bắc bá hầu của triều Ân .

Lãnh thổ nước Sùng hay Cao chính là đất Giao – Chỉ , đất Giao chỉ phía xích đạo gọi là đất An – Ôn – nóng , phía ngược lại gọi là đất Lạc – Nác – Nước , Đất Bá thục nằm  ở phía Nam Giao chỉ (phương hướng xưa -ngoài cõi) , phương Nam xưa , nay là phương Bắc về Dịch tượng là màu đen , Huyền thiên nên tộc người ở đất Nam – Lâm gọi là tộc Ô đồng nghĩa với Đen , Ô biến âm thành Âu còn gọi là Ai Lao (ai lao thiết âu – ô) .

Ông Cơ Xương đánh bại Sùng hầu Hổ tức Sùng Lãm thống nhất 2 tộc người 2 vùng đất Âu và Lạc lập ra nước Âu – Lạc xây kinh đô trên đất Lạc gọi là Phong kinh .

Truyền thuyết lịch sử Việt viết ....Lạc long quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng là đã lầm lẫn lần hợp tan thứ 1 với cuộc hợp tan lần thứ 2 này .

Âu – Ô – màu đen chỉ đất phía Nam Giao chỉ gọi tắt là Lĩnh Nam nay là vùng Quảng Tây – Qúy châu , Cơ – Cao là chúa là thủ lãnh , Cơ cũng là họ của ông Cơ Xương tức Thục bá hầu . Âu Cơ thống nhất đất và dân của mình với đất và dân của Sùng Lãm tức Sùng hầu Hổ lập ra nước Âu – Lạc , còn gọi là nước Văn lang – Văn vương vì ông Cơ Phát (Phán) sau khi lên ngôi thiên tử đã truy phong cha là Văn vương , vua của thiên hạ nhà Châu , nước Văn lang tức nước do Văn vương kiến lập lãnh thổ bắc (xưa) giáp Hồ Tôn , nam (xưa) giáp Hồ nam (bị cạo sửa thành Nam Hải) , tây giáp Xuyên Thục (nay là Tứ xuyên hay Tây xuyên) và Đông gíap biển Đông xưa gọi là hồ Động đình .

Ông Bá Ích dẫn 50 con nhánh La - Lửa lên núi Kỳ sơn sau được nhà Châu tôn phong là Cổ công đản phủ – Thái vương nhà Châu , cả ngàn năm sau truyền đến đời vương Qúy tức Thục vương cha của ông Cơ Xương , Cơ xương tức bà Âu Cơ lập ra nước Văn lang – Âu Lạc xưng là An – Dương vương an là ơn hay ân nghĩa là thứ 2 , dương thực ra là giêng  nghĩa là đầu tiên ý chỉ ông thánh của nền Dịch học ,  An Dương vương  là triều Hùng vương thứ 12- Hùng Chiêu vương – Quốc tiên lang trong 18 đời Hùng vương của người Việt , Chiêu chính là Châu ; nhà Châu Trung hoa , Quốc tiên lang nghĩa là lang hay vương đầu tiên của quốc gia Âu – Lạc và cũng nghĩa là ông tổ của nhà Châu Trung hoa .. ., Cơ Xương  là Lang Liêu trong tích ‘Bánh chưng bánh dày’ – ‘trời tròn đất vuông’ , lang Liêu nghĩa là chúa người Liêu gọi khác là Lăng Xương thật đúng với cách gọi người Liêu tử Quảng Tây của sách vở Trung quốc .

Ông Cơ Phát (Phán) mang tước Ninh vương của nước Văn lang đánh bại vua Trụ nhà Ân lên ngôi thiên tử sử sách gọi  là Vũ vương nhà Châu , Triều đại này Cổ sử Việt gọi là đời Hùng vương thứ 13 – Hùng Ninh vương – Thừa Văn lang , Ninh vương là tước của ông Cơ Phát , Thừa Văn lang ý nói ông là người kế thừa ngôi vua của Văn lang hay Văn vương .

Ngày nay người Việt thờ Ninh vương với tôn hiệu Linh lang đại vương ; ninh- linh , lang đồng nghĩa với vương .

Xin dẫn 1 chuyện ... làng Vân nước Việt  có loại rượu đặc biệt ngon gọi là ‘Vân hương mỹ tửu’ , Kỳ lạ là nơi đây  thờ tổ nghề chế rượu  là bà Nghi Đich, người dân truyền miệng rằng bà là vợ cả của Vũ Vương, vì chồng bà thích uống rượu, nên bà đã tìm cách chế men cất nên thứ rượu ngon này, rồi đem truyền lại cho người làng Vân để lưu truyền hậu thế…Chiến quốc sách xác nhân vua Vũ này chính là Châu Vũ vương nhà Châu , sử̉ thuyết Hùng Việt cho  Vân hương chỉ là nôm na từ ̀ ‘làng Vân - Vân làng’  , Vân làng cũng chính là Văn lang quốc hiệu cổ đại của Việt nam . 

Vũ vương Thiên tử nhà Châu sau khi lên ngôi đã dời đô từ đất Phong tức Phong châu về Kiểu hay Cảo kinh , Cảo và kiểu chỉ là biến âm của cửu – số 9 chỉ phía tây trong Hà thư – Dịch học , có thể Cảo kinh chính là Côn minh ngày nay , Cửu kinh chính xác là Côn Ninh không phải là Côn Minh , ninh nghĩa là không thay đổi là Dịch tượng chỉ phía tây cũng chính là tước hiệu của ông Cơ Phát thời nước Văn lang . cũng nói thêm ai đó đã mưu mô hoán cải Nam Minh tức kinh ̣ô phía Nam thành ra Nam ninh như ngày nay còn Côn Ninh kinh đô phía Tây của Ninh vương thì bị biến ra Côn Minh chẳng đâu ra đâu cả .

Khoảng năm 770 trước công nguyên , Châu Bình vương dời về Đông đô trên đất Giao chỉ xưa , rất có thể Đông đô nhà Châu nằm ngay trong lòng Hà nội ngày nay . Thời Đông Châu cổ sử Việt gọi là Đời Hùng vương thứ 14 – Hùng Tạo vương – Đức Tân lang . Có câu thơ ....Kiểu ngoại bách Man hoàn Cổ Lũy tức thành Cổ Loa đã  chỉ ra việc này .

Chính tên gọi Châu giang ở vùng này đã chỉ ra nó bắt nguồn từ đất gốc của  nhà Châu  tương tự Hán thủy sông Hán chính xác ra là Hưng thủy bắt nguồn từ đất gốc mà Hiếu cao  Lý Bôn - Lưu Bang xin thêm của Hạng Vũ  ,

Nhà Châu phân phong cho con cháu và công thần lập ra rất nhiều nước gọi là chư hầu , đây thực ra là giải pháp tình thế vì với trình đô khoa học kỹ thuật lúc ấy thì không triều đình nào có thể quản lý 1 vùng lãnh thổ mênh mông thiên địa cả 4 -5 triệu km vuông , cách  lấy liên hệ máu mủ hoặc thâm tình mà nương tựa lẫn nhau tạo ra điều Truyện Hồng bàng trong Lĩnh nam trích quái gọi là trăm trứng nở ra Trăm trai làm tổ của Bách Việt .

Thời nhà Hạ dân nước họ Hùng chia thành 2 nhánh :

Nhánh Hoa Hạ chỉ dòng chính sống ở Trung quốc tức đất trung tâm .

Nhánh Di Hạ chỉ nhánh họ Hùng bị Cơ Phát dời đi tứ phương sống ở ngoại biên .

Sử thuyết Hùng Việt cho là Đất trung tâm nhà Hạ gồm : Giao chỉ gốc và Nam Giao cộng với đông Hạ là Quảng Đông ngày nay tất cả hợp thành Bộ Giao chỉ trong Hoa sử hay bộ 10 -5 trong truyền thuyết lịch sử Việt nam.

Nhờ phép phiên thiết ta xác định được đất của nhánh Di Hạ .

Di Hạ thiết Dạ ...chỉ ra chính là nước Dạ lang ở Qúy châu ngày nay , lang là đồng nghĩa của vương .

Việc xác định được địa bàn của người Di Hạ là nước Dạ lang ở Qúy châu có hệ qủa ngược giúp khẳng định : đất trung tâm nhà Hạ chính là bộ Giao chỉ sau gọi là Giao châu chứ không thể là vùng Sơn tây bắc Hoàng Hà vì khác 'giống'.

Cổ địa lý Trung hoa lấy đất trung tâm thời nhà Hạ là Giao chỉ bộ làm chuẩn nên ông Thuấn tổ của nhà Thương địa bàn chính là Hồ nam và Giang Tây được xếp vào Đông Di và Châu văn vương lập quốc ở Qúy châu – Vân nam được cho là người Tây Di .

Sau cả mấy trăm năm thì máu cũng đà loãng tình cũng lợt màu nên các nước chư hầu đánh nuốt lẫn nhau đến thời Xuân thu – Chiến quốc chỉ còn vài nước lớn , dân mỗi nước thành 1 chi của Bách Việt , Tần là Qủy Việt , Sở là Tủy Việt , Ngô là Dương Việt , Việt là Mân Việt , Tống ở Quảng đông thành Đông Việt , Điền thành Điền Việt , dân phía tây Giao chỉ là Tuấn Việt , nước Văn lang thì dân phía Bắc miền Qúy châu – bắc Quảng Tây là Di Việt , nam Văn lang là Lạc Việt cũng là Nam Việt (có người còn nói đến Sơn Việt và Chiêm Việt nhưng chưa thể xác định ).

Trăm trứng nở trăm con trai tổ của Bách Việt là thế , bách ở đây chỉ có nghĩa là đông là nhiều không phải là 100 , kinh Dịch có nói đến ....kiến vạn quốc thân chư hầu ....như thế lớn hơn số trăm nhiều lắm .

Xét kỹ 2 lần hợp – tan thì có thể thông được những gì gói trong truyện họ Hồng bàng ở sách Lĩnh nam trích quái , lần hợp tan trước giúp hiểu được cảnh phân ly 50 con theo cha xuống biển , 50 con theo mẹ lên núi , lần hợp tan thứ hai ngàn năm sau cho biết ý nghĩa sự việc Trăm trứng nở trăm con trai là tổ Bách Việt .

Phần ‘bột’ của truyện họ Hồng bàng chính là những dòng sử của tổ tiên người Việt nam thời tiền sử vậy .


Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2024

Nước Hán , người Hán , văn minh Hán (đăng lại)

 Những tộc người sinh trú lâu đời ở phía Bắc Trung quốc ngày nay thuộc chủng tộc tên khoa học là Mongoloid . Theo về Ngũ sắc thì họ ở phương màu Đen , xét theo Cửu thiên thì họ thuộc Huyền thiên  , dựa vào tập tính dân tộc  được gọi là  Khan theo cách họ gọi thủ lãnh của mình .

Vua chúa là khan , phiên thiết thành khả hãn , độc âm hóa ra hãn  ; quốc gia của Hãn gọi là Hãn quốc , quân của Hãn là Hãn quân . Hãn là danh từ chung tương đương với vương , hãn quốc tương đương với vương quốc do vậy trong lịch sử có thể có nhiều hãn quốc , để có thể chỉ định chính xác trên cái nền khan – hãn giới viết sử đã tạo ra từ ‘Hán’ danh từ riêng để gọi  hãn quốc đầu tiên của tộc người chủng Mongoloid . Từ mốc này trong lịch sử loài người mới có Hán quốc – Hán nhân – Hán tộc – Hán văn và nền văn minh Hán .v.v.

Hán tộc tức những tộc người gọi thủ lãnh là ‘khan – hãn’ không phải là tộc người thuần nhất mà có nhiều chi do đó trên cái nền màu Đen , Huyền thiên tức phía rét căm căm của Dịch học và từ khan – hãn gọi thủ lãnh ngoài khan – hãn biến ra  Hán giới viết sử cũng đã tạo ra nhiều từ để đặt tên cho các sắc dân chùng Mongoloid này :

Dựa vào phép phiên thiết : Khan  biến  ra khả hãn , khi tan , khế đan ,khiết đan , khất đan .v.v.

Màu Đen – Huyền thiên tạo ra :

Mông – mờ tối  gọi người – tộc và nước Mông cổ ,  kí âm La tinh là  Mongol

Lu (ngược với tỏ) sau Lu biến ra Liêu – Lưu để gọi người Liêu nước Liêu

Căm là rét mướt biến ra Kim

Mun màu đen biến ra man , Mãn – Mĩn tức Minh (tối) .

Ngoài ra dựa vào tên tự xưng của họ là Tacta kí âm chữ Nho thành ra : Thát – Đát – Thiết – Thất .v.v. , (giới sử học phương Tây thường dịch Tacta là rợ).

Rất nhiều người lầm tưởng đại hãn Mông cổ tên là Thành cát tư hãn  cũng là Thiết mộc chân ;Thực ra : thành cát thiết Thát , thành cát tư hãn tức Thát hãn chỉ nghĩa là chúa rợ Tacta không phải tên riêng .

Thiết mộc chân :  mộc chân thiết man ; thiết mộc chân cũng là rợ Thát mà thôi .

Giới viết sử cũng đã lợi dụng phép phiên thiết Hán văn để cải đổi  bẻ cong lịch sử Thiên hạ nhiều lần như ….Giặc phiên thiết ra Da luật trong hoàng tộc Da luật của người Liêu , hãn thay bằng phiên thiết thành họ  hoàn – nhan vua nước Kim .v.v.

Chính sử Trung quốc  viết Quê hương gốc tổ của họ là vùng Thiểm Tây – Sơn Tây và Hà Bắc ở phía Bắc Hoàng hà .

Tôi đã bỏ ra cả 2/3 cuộc đời mình để chứng minh điều này là sai sự thật nay …bỗng dưng ngộ ra …sử Trung quốc hoàn toàn đúng vì  họ nhận mình thuộc  chủng Mongoloid tức cùng tộc người với Mông cổ , Liêu , Kim  gọi chung là Tacta – Thát Hung nô tức những tộc người sống ở phương màu Đen hay Huyền thiên đâu có dính gì đến Thiên hạ của Tam hoàng Ngũ đế …

Giới khoa học Trung quốc đã xác định  Lãnh thổ nước họ vào thời điểm nhà Hạ Trung hoa là đây :

Nước Hán , người Hán , văn minh Hán (đăng lại) Hacca3

Hình trích wiki – internet

Sách Thượng thư viết trong thiên Vũ phu thổ ….Đại Vũ chia nước thành 9 châu ….phía Đông 9 châu là biển …rõ ràng nước mà họ gọi là Hạ trong bản đồ trên làm gì có biển vì thế đâu có phải là nước của vua Đại Vũ …

Ngoài Thượng thư nhiều Tư liệu lịch sử khác cũng viết lãnh thổ nhà Hạ nhà Thương …tiền Giao chỉ …mặt tiền là Giao chỉ .Điều có tính quyết định là khoa học ngày nay đã xác định được vào thời nhà Hạ cư dân vùng …tiền Giao chỉ tức Hoa Nam ngày nay là những người thuộc loại hình nhân chủng Nam Mongoloid hoàn toàn khác biệt với người Mongoloid tổ tiên người Trung quốc ,như thế là … rõ ràng có 1 nhà Hạ nhà Thương khác của con cháu  Phục Hy Thần nông Hoàng đế  chép trong Thượng thư không phải là nhà Hạ  cách xa Giao chỉ đến vài ngàn km  của Hán sử nòi Monggoloid như được xác định  ở sơ đồ trên.

Hán quốc đầu tiên theo Hán sử là nước Tiền Hán hay Tây Hán của ông Lưu Bang lập năm 206 TCN và nước Hậu hay Đông Hán của Hán Quang vũ đế lập năm 25 SCN ở Hà Bắc ngày nay .

Cứ tạm cho Hán sử là chân thực thì nước Hán , người Hán , văn minh Hán sớm lắm cũng chỉ có từ đầu Công nguyên , như thế những gì sách vở tư liệu ghi chép về Thiên hạ và người trong Thiên hạ  trước thời điểm đó đương nhiên không thuộc về lịch sử và lịch sử văn minh Hán tộc .

Thông tin đầu tiên về tộc người sống ở phía màu Đen nay là phía Bắc Thiên hạ ghi chép vào thời nhà Thương Ân tức triều đại  Thương thứ II (ân – ơn đồng nghĩa với nhị nhì) …, phía Bắc (nay) nhà Thương Ân có thuộc quốc Quang , phía Đông là thuộc quốc Từ …, Thông tin này phải hiệu chỉnh theo ngôn ngữ ngày nay :

Quang là tam sao thất bản của Quan nghĩa là Nom – nhìn , Nom – Non là  phương Nam , thuộc quốc Quan nghĩa là thuộc quốc ở phía Nam …, nước Quang – Quan về sau chính là nước Đông Hán hay Hậu Hán của Hán Quang vũ đế .

Tương tự ‘Từ’ là chuyển ngữ của ‘Thương’ tiếng Việt , thương yêu – Từ ái là Dịch tượng của phương Đông , thuộc quốc Từ là tên phiếm chỉ thuộc quốc ở về phía Đông Thiên hạ .

Thời nhà Châu , người họ Hùng đã làm chủ lưu vực sông Hoài , nhà Châu gọi họ là Hoài Di , ngoại chủng ở vùng Sơn Đông – Hà Bắc được gọi là người Từ Nhung ; Từ chính là tên thuộc quốc Từ phía Đông thời Thương Ân trước , Nhung là mềm dịch tượng của phía Đông ngược với khăng – cứng phía Tây .

Thời Tần , Tần thủy hoàng đã sai Mông Điềm quét người Nhung khỏi vùng Hà Nam (Bắc ?) nghĩa là phía Nam Hoàng hà nay là Sơn Tây – Hà Bắc nhưng sau khi Mông Điềm mất rồi khắp nơi nổi dậy chống Tần bạo ngược biên cương không người canh giữ người Nhung đã lợi dụng dịp này kéo về chiếm lại  vùng đất bị mất trước đó .

Cả nhà Châu và nhà Tần lãnh thổ ở phía Tây nên gọi tộc người ngoại chủng sống ở Hà bắc Sơn đông là rợ Nhung , nhung là  mềm – nhũn Dịch tượng của phía Đông .

Dưới triều đại của Lưu Bang đám rợ  Nam man được gọi chung là Hung nô , thiền vu Hung nô Mao dun học theo triều đình Lưu Bang  lập ra 1 quốc gia du mục đối với Thiên hạ của Lưu Bang thì sớm đầu tối đánh khiến vua tôi Lưu Bang mất ăn mất ngủ ,có lần 3 -4 trăm ngàn kị binh Hung nô vây Lưu Bang ở Tây Mã ấp nhiều ngày đêm lương thực cạn kiệt súyt mất mạng may mà thoát chạy được từ đấy vùng Bắc Hoàng hà ngày nay thuộc hẳn về Hung nô . Mao dun – Mạo đốn đâu có phải tên tuổi gì ; mao dun thiết mun – man chỉ đám rợ Nam man , cụm từ ‘thiền vu mao dun’ chỉ nghĩa là chúa mọi …

Hung nô đã trở thành kẻ thù 1 mất 1 còn với  ông  Lưu Bang ròng rã nhiều năm trời . Để yên thân Lưu Bang áp dụng chính sách hoà thân  kết thành nước anh em với họ và mỗi năm …cống nạp cho ‘anh em’ cả đống lụa là châu báu , chắc ăn hơn hoàng đế họ Lưu (gọi theo sử Trung hoa) đi nước cờ …’tình cảm’  nhiều lần thông hôn với các Thiền vu Hung nô tạo ra  hoàng gia tạp chủng đầu tiên của Thiên hạ .

Cuối triều đại do Lưu Bang lập nên , các vua sau cùng  trở nên hư đốn , sưu cao thuế nặng khiến  dân chúng khắp nơi kêu than oán thán , qua cái gọi là phép ‘thiện nhượng’ kẻ sĩ ngoại thích Vương Mãng lên nắm quyền 1 cách hoà bình lập ra triều đại mới sử gọi là nhà Tân .

Vương Mãng làm cuộc cách mạng toàn diện đảo lộn tận gốc rễ xã hội  tưởng là sẽ đem lại sung sướng cho mọi người nào ngờ mong muốn tốt đẹp tuyệt đối của Vương Mãng chỉ là không tưởng làm sao có thể có 1 xã hội như thế trong thực tế , bọn tham quan ô lại lợi dụng cải cách bóp nặn người dân đến độ bần cùng , nhân tai như thế cộng thêm với thiên tai mất mùa có nơi người ta phải ăn cả cỏ .

Thời Lưu Bang đã kết anh em với Hung nô , hoàng gia đã là hoàng gia tạp chủng , hung nô thoải mái tràn vào trung nguyên tạo ra 1 thiên hạ tạp chủng  , Vương Mãng thi hành chính sách phân biệt chủng tộc …tư liệu viết Vương Mãng cấm người họ Lưu làm quan thực ra là hạ người Liêu xuống thành dân hạng 2 hay phó thường dân không cho ngang hàng với người Thiên hạ chính gốc . Các vương Hung nô đều bị Vương Mãng hạ cấp xuống tước Hầu , cấp cho ấn tín nhỏ hơn …, ai không phục là Vương mãng động binh trừng phạt …,đối nội đối ngoại như thế không thể không sinh loạn …

Đám qúy tộc gốc người Liêu bị Vương Mãng tước quyền đã  nổi loạn ban đầu chỉ là đám cướp rừng cướp núi gọi là  ‘Lục lâm thảo khấu’ nghĩa là bọn giặc cỏ Lục lâm nào ngờ giặc cỏ đắc thời , Lục lâm thảo khấu trở thành Hán quân ,  tướng cướp Lưu Huyền trở thành Hán Canh thủy đế của nước Hán không có tên trong sử (?) , Hán Canh thủy đế bị quân Xích Mi diệt , Hán Quang vũ đế lên ngôi ở Hà Bắc lập ra nước Đông Hán tiếp nối .

Lịch sử Hán quốc chính thức bắt đầu từ thời điểm này .

Hán Quang vũ xứng là tay đại hãn  chỉ trong vòng 20 năm đã chiếm gần trọn Thiên hạ , đất đai cực Nam kéo đến tận Giao chỉ .

Lưu Bang là nông dân thất học khi mới lên ngôi tỏ ra khinh thường đám Nho sĩ nhưng về sau cũng buộc phải dùng họ làm quan để cai quản dân chúng các nơi , Lục lâm thảo khấu chiếm kinh đô Tràng an lập ra  triều đại  Canh thủy đế của Hán quốc không tên (thực ra là bị đám viết sử đời sau cạo xóa quốc hiệu) , Thiên hạ như rắn mất đầu ….khắp nơi quan mục tha hồ xưng bá xưng vương lập ra đủ thứ nước …riêng phía Nam trên đất Giao châu các quan tự đóng cửa giữ thành không xưng gì cả …sử gọi là Sĩ nhiếp tức kẻ sĩ tạm nắm  quyền cai quản khi không có vua và triều đình trung ương , không có nhân vật lịch sử nào họ Sĩ tên Nhiếp như hiện nay tưởng.

Lịch sử Thiên hạ bị đánh cắp biến thành lịch sử Hán quốc ở ngã rẽ này .

Triều đại do ông Lưu Bang lập nên chỉ có thể gọi là nhà Hiếu vì tất cả các vua đều có chữ Hiếu làm đầu miếu hiệu ; Lưu Bang (gọi theo sử Trung quốc) là Hiếu Cao  hay Hiếu cao tổ , Lưu Triệt là vua đã đánh bại Nam Việt thống nhất Thiên hạ là Hiếu Vũ .v.v.

Hoặc cũng có thể gọi là triều đại Hưng vì kinh đô Tràng an của triều Lưu Bang còn được gọi là thành đại Hưng .

Đám lưu manh viết sử đã biến … Hưng thành Hán và Hãn tức thủ lãnh Hung nô cũng thành Hán , dân gian có câu ….mập mờ đánh lận con đen …là thế ; Hưng cũng là Hãn và hãn bỗng thành Hưng …, nước đại Hưng mập mờ biến ra đại Hán …thế là bỗng chốc  toàn bộ lịch sử và văn minh Thiên hạ tiền ‘lục lâm thảo khấu’  trở thành lịch sử và văn minh Hán tộc , Tam hoàng – Ngũ đế tự nhiên thành ra tổ tiên người Hán …

Hán quốc tức Hãn quốc nghĩa là nước của đại hãn Hung nô lập quốc buổi đầu công nguyên :

*Triều thứ 1 là Tiền hay Tây Hán của chi Hung nô phía Tây vua đầu là Hán Canh thủy đế

*Triều thứ 2 là hậu Hán hay Đông Hán của chi Hung nô phía Đông  hay Đông Hồ do Hán Quang vũ đế lập .

*Triều thứ 3 là Tào Ngụy với ông tổ là Tào Tháo đất tổ là vùng Sơn Đông – An huy ngày nay

* Triều thứ 4 thực ra là triều Tây Hán của chi Tây Hung nô tái sinh , giới sử học Trung quốc dùng tên phiên thiết thay vào gọi là triều Tấn (tây hán thiết tấn) , rồi họ đem tên ‘Tây Hán’ gán cho triều đại của ông Lưu Bang tạo ra cây cầu cứ như thể Tây Hán nối liền một mạch sang Đông Hán không phải là  Hung nô đánh và chiếm Thiên hạ .

Triều Tấn hay Tây Hán tái sinh đã diệt 2 nước Thục và Ngô của người ‘Thiên hạ’ mới tái dựng sau cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng , Việt sử gọi là khởi nghĩa 2 bà Trưng , dòng sử Việt không có thời gọi là ‘Tam quốc’ chỉ có thời ‘Lưỡng triều phục quốc’ hay thời ‘thù trong giặc ngoài’ .

Tấn triều  tồn tại chưa bao lâu thì sinh  biến loạn , mỗi ông hoàng bà chúa trong hoàng tộc dựa vào 1 chi  Hung nô nổi lên đánh nhau tơi tả dành ngôi đại hãn …kết qủa sau cùng Hoa Bắc chia thành 16 nước của Hung nô , sử Trung quốc gọi là thời ‘Ngũ Hồ loạn Hoa’. (Hung nô thiết hồ).

Con cháu nhà Tấn – Tây Hán chạy xuống miền  Nam  lập ra triều đại sử gọi là nhà Đông Tấn của nước Hán . Do tình thế bắt buốc Đông Tấn không dám coi người Hoa Nam là đám nô lệ như trước mà nâng lên hàng ‘phó thường dân’ , tuy đã được làm người nhưng địa vị vẫn phải đứng dưới người Hán .

Năm 304 chúa 1 chi Hung nô là Lưu Uyên lập ra nước Bắc Hán cũng gọi là Hán Triệu , Lưu Uyên nhận là hậu duệ của Thiền vu Mao dun kẻ thù không đội trời chung với Lưu Bang xưa như thế đã xác định rõ dòng Hán và Hung nô là 1 ; nói khác đi Hán là 1 trong Ngũ Hồ mà thôi không phải là con cháu của Tam hoàng Ngũ đế chủ của Thiên hạ thời thái cổ .

Tình thế Thiên hạ lúc này vô cùng bi đát , miền Bắc  nằm gọn dưới móng ngựa Ngũ Hồ trong đó  ‘Hồ’ lớn nhất chính là Hán tộc (chiếm 5/16 nước của rợ ). Miền Nam dễ thở hơn với quy chế nửa nô lệ , thôi thì dù sao làm phó thường dân vẫn tốt hơn súc vật …

Khổ đau và nỗi nhục mất nước của người Thiên hạ chỉ chấm dứt vào năm 557 khi nhà Bắc Châu đánh đuổi Hung nô lên làm chủ Thiên hạ .

Thiên hạ  thịnh trị từ năm 557 với nhà Bắc Châu , qua nhà Tùy 581 – 618 tới hết đời Đường năm 907  (Sử thuyết Hùng Việt gọi là Cửu Việt Tủy Việt và Thường Việt) thì Miền Bắc lại 1 lần nữa rơi vào tay Hung nô , miền Nam chia thành Thập quốc .

Từ những năm 960 Thiên hạ chia 3 ; đây mới là thời Thiên hạ Tam quốc thực sự.

Phía Tây là Đại Lí , Đông là đại Tống và hướng Xích đạo là đại Việt .

Từ năm 947 nước Liêu giống Hung nô làm chủ vùng Bắc Hoàng hà

Năm 1038 đến 1234 lần lượt hết Tây hạ đến rợ Kim xâm lấn sau cùng chiếm mất Hoa Bắc của Tống , nhà Tống chạy về miền Nam , sử gọi là Nam Tống .

Trong khoảnh những năm Năm 1271 – 1368 Mông cổ lần lượt nuốt đại Lí rồi đại Tống trong đó có miền Đông Đại Việt do Tống chiếm trước đó đặt gần trọn Thiên hạ chỉ trừ miền Tây đại Việt dưới móng ngựa của họ .

Thời Mông cổ cai trị là thời kì đen tối nhất của Thiên hạ , đặc biệt là người miền Nam nói chung thân phận không hơn loài súc vật …

Thành cát tư hãn tạo ra  1 đế quốc mênh mông thiên địa và ông chia đất đai  thành 4 hãn quốc , 3 hãn quốc giao cho con cháu và 1 gọi là đại hãn quốc trước là đất gốc Mông cổ cộng với Mãn châu nước Kim và đất đại Thiên hạ (thường gọi sai là Trung hoa) do chính Thành cát tư hãn cai trị và truyền cho con trai ngành trưởng , đại hãn quốc của đế quốc Mông cổ về hình thức tương tự như Trung hoa của Thiên hạ , 3 hãn quốc kia là các chư hầu .

Đại Hãn quốc chính là Hán quốc tái sinh ở thời trung cổ ; triều Nguyên của đại hãn quốc thực sự tiếp nối truyền thống  Hán quốc từ thời ‘Lục lâm thảo khấu’ tôn tướng cướp lên làm vua , Thiết mộc chân chính là truyền nhân của Hán Canh thủy đế và Hán Quang vũ đế ngàn năm trước .

Nhà Nguyên của đại Hãn quốc bị ông Chu nguyên Chương đánh đuổi chạy về Mông cổ , trong lúc nguy khốn sắp tuyệt dòng thì người Nữ chân vớ được ấn truyền quốc của Thành cát tư hãn thế là họ phất lên lập ra triều Mãn Thanh của đại hãn quốc .

Vua quan Mãn Thanh khôn ngoan hơn , ban đầu chỉ trực tiếp cai trị Hoa bắc tức đất thuộc địa của nước Kim xưa vì Kim – Mãn là 1 dòng giống , còn Hoa nam họ lập ra 3 phiên quốc giao cho 3 phiên vương là quan nước Minh – Ngô trước cai trị . Sau thời gian củng cố cảm thấy chân đế đặt trên đất Thiên hạ đã vững  vua Mãn Khang hy ra lệnh triệt Tam phiên đặt ách cai trị trực tiếp của Mãn thanh trên miền đất này .

Liên tiếp 3 đời vua Mãn từ Khang Hi Ung Chính tới Càn long người Mãn triệt để Hồ hóa dân Thiên hạ , cuộc văn chiến tổng lực liên tục kéo dài mà đỉnh cao là vào thời cai trị của Càn long , tất cả sách vở và bản đồ trong Thiên hạ bị thu về cho hơn 300 quan ‘bác sĩ’ cạo sửa , cạo không nổi thì đốt …xong chất vào 4 cái kho hàng gian hàng gỉa gọi là Tứ khố toàn thư …Nói chung với Tứ khố toàn thư thì từ lịch sử tới văn chương học thuật hết ráo Thiên hạ không còn là …Thiên hạ nữa  mà là cái sản phẩm của cái quái thai Hoa – Hán 1 nhà do ông cháu Khang hi – Càn long đẻ ra .

Cách mạng Tân hợi thành công triều đại Mãn thanh của Đại Hãn quốc cáo chung , năm 1911 nướcTrung hoa ra đời .

Như thế trước năm 1911 làm gì có nước Trung hoa và nền  văn minh Trung hoa ?.

Theo Cách tổ chứcThiên hạ cổ xưa :

Trung quốc và chư hầu hợp thành Thiên hạ , người sống ở Trung quốc  gọi là Hoa hạ , sống ở 4 phương gọi thì gọi là Tứ Di .

Trung quốc là nước ,  Hoa hạ là người , Trung quốc – Hoa hạ gọi tắt là Trung – Hoa là từ chỉ vùng lõi hay xương sống của cả Thiên hạ , xét ra  mỗi triều đại có trung hoa của mình , trung hoa nhà Thương không phải là trung hoa của nhà Châu và càng không phải là trung hoa thời Tùy – Đường .

Hoàng đế  sống và trực tiếp cai trị Trung quốc với sự giúp việc của triều đình trung ương thường gọi ‘đùa’ là thiên triều . chung quanh Trung quốc vua phong tước kiến địa lập ra các nước chư hầu có chúa và triều đình riêng  , đặc ân này thường là ban cho con vua và các vị khai quốc  công thần . Ngôi vương chư hầu được cha truyền con nối nhưng phải được hoàng đế chuẩn phong , làm ‘bừa’ sẽ bị khép vào tội đại nghịch bất đạo và Thiên binh sẽ được cử đến hỏi thăm …

Xét ra quốc danh Trung Hoa mà dùng trong thời đại ‘dân quốc’ hay ‘Cộng hoà nhân dân’ là không chuẩn …Thử hỏi với Trung quốc hiện nay thì đâu là Trung hoa đâu là chư hầu ?, không lẽ như đã kí thác trên  quốc kì …ngôi sao lớn là Trung hoa của người Hán và Hán hóa còn 4 ngôi sao nhỏ tượng trưng cho Tứ Di ….Mãn Hồi Mông Tạng ?.

Tình trạng Trung quốc hiện nay …Kẻ thống trị và kẻ nô lệ bỗng dưng nhập thành 1 và cùng hưởng chung gia sản cha ông để lại thế mới ngộ …, cha ông chủng Nam Mongoloid bỗng dưng có đám con cháu chủng Mongoloid thừa kế gia tài  thế mới hay … , ngược lại không ít người chủng Nam Mongoloid ở Hoa Nam hướng vọng về nấm mộ chứa bộ xương Mongoloid ở Hoa Bắc mà rơi lệ… thật đáng thương làm sao  …
Như vậy là đã ra Ngô ra khoai không
thể ‘mập mờ đánh lận con Đen được nữa’ .

Xét kĩ hơn ;

Xin trích một đoạn trong Sách Lộ Sử của La Bí đời Tống.viết về tộc người Thiên hạ thời Đông Hán cai trị :
 “Ngô Việt Sở Thục đều là đất man, các đất Tần Lũng Tấn ngụy đều đã thành đất của người địch, Hà Nam là đất man, Hà Tây là đất địch, Hoài thì có các rợ thư, Ngụy thì có các rợ nguy, chỗ nào cũng đầy dãy (Man địch), chỉ một Vương Thành ở Lạc Dương mà những người Nhung, Dương Cự, Tuyền Cao, Lục Hồn, Y Lực cũng ơ xen lẫn, trong ấy người “Quan Tộc”không có bao nhiêu .
Lạc dương trong đoạn sử này là thủ đô của Đông hãn quốc tức nhà Đông hán theo sử Hán .
Thông tin trong đoạn trích trên xác định “Quan Tộc” vẫn ở Bờ bắc Hoàng Hà, vùng Sơn Tây Hà Bắc và nếu liên kết thông tin với địa lý- lịch sử thời “Ân Thương” thì ta buộc phải hiểu những dân mà Lộ sử gọi là Man là địch mới đích thị là người Trung Hoa, là hậu duệ của người Thời Ân Thương.
 Ngoài tứ di Cũng có tên gọi khác chỉ chư hầu 4 phía như tác gỉa Lê Giảng trong sách ‘các triều đại Trung hoa’ xuất bản tại VN năm 2002 viết : nhà Thương –Ân có 4 thuộc quốc :
 – Phía nam là nước Quang . chính xác phải là nước Quan là từ dịch sang Hán văn từ Nom hay nhìn Việt ngữ.Hướng Nom – Nam xưa thuộc Huyền thiên màu Đen nay đảo ngược gọi là Bắc khi so với đất đai nhà Thương và Thương Ân vùng Trường giang và Hoài giang bao gồm cả Giang Nam .

Quan tộc - Hán tộc . Thuong11

Nước Quang tức Quan vua là Quang vũ hay Quan vũ , vũ là kí âm của vua từ Việt ngữ . Vua phương Nam bị hán sử ấm ớ thành vua 3 tầng Hãn- quang – vũ – đế  Lưu tú tức lu tối – tối .
– Tương tự Phía bắc lãnh thổ nhà Thương là nước Thao , thao là biến âm của thiêu hay đốt cháy chỉ hướng Xích đạo nóng Bức thuộc Viêm thiên màu hồng của Lửa , nay cũng đã bị  lộn ngược , nước Thao là đất chính của nhà Hạ hay Hè lãnh thổ kéo dài từ Giao chỉ qua hết vùng Lãnh Nam
 – Phía đông là nước Từ. Từ là tên dịch của thương yêu chỉ phương Đông tình cảm theo Dịch học  đất này còn vết tích là Từ châu ở bán đảo Sơn đông .
 – Phía tây là nước Chu hay Châu ., thực ra là chiêu – chiều chỉ phía Tây mặt trời lặn ngược với bên Mục  là bên  mặt trời mọc nay là cao nguyên Vân Qúy cộng với đất Quảng Tây sau gồm cả  Giao chỉ đất khởi phát  nhà Hạ .
Xét thông tin địa lí trong Lộ sử  thì rõ ràng nước Quan chính là Đông Hán của Lưu Tú Quan vũ đế lập ra ở vùng Sơn Tây Hà bắc sau mở rộng xuống vùng Hà Nam Sơn Đông dọc theo lưu vực Hoàng hà và Lộ sử cung cấp thông tin vô cùng quan trọng đối với lịch sử Thiên hạ là hầu như toàn bộ Sở Ngô Thục Ngụy tức lãnh thổ các nhà Hạ Thương Chu Tần hết thảy  là đất của Rợ tức người  Trung hoa theo nghĩa thông thường đang dùng   là Rợ chính gốc không là Man thì là Địch còn Hán con dân các khan – hãn mới là tộc người văn minh chủ nhân của Trung quốc tức nước ở giữa Thiên hạ .
Tóm lại : Trung quốc của Hán tộc ngày nay không dính dáng gì với Trung hoa của Tam hoàng Ngũ đế xưa ngược lại thậm chí còn có thể  là kẻ thù truyền kiếp của người Trung hoa .

Chính vì thủ đoạn của họ mà ngày nay không biết bao nhiêu người Trung hoa chính gốc đang chịu cảnh mồ cha không khóc khóc đống mối .

Sử thuyết Hùng Việt ra đời để chấm dứt cảnh này …