Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

Thiên hạ cận kim lịch sử .

 Thiên hạ cận kim lịch sử . Ban_do_hanh_chinh_trung_quoc-3

Sử thuyết Hùng Việt cho Sơn – Hà của Hán tộc tức Trung quốc hiện nay là vùng Hà Bắc – Sơn Đông – Sơn Tây sau chiếm thêm Hà Nam làm trung tâm khi Lu Túi dựng nên Hán quốc .
Luận điểm này không phải là vu vơ , cảm tính mà là rõ ràng thực sự .
Theo tư liệu lịch sử hiện nay :
Từ hơn 1.400 năm trước, Khiết Đan là dân tộc miền Bắc Trung Quốc đã xuất hiện trong Ngụy thư. Họ binh hùng tướng mạnh, kiêu dũng thiện chiến. Một thủ lĩnh bộ lạc tên là Gia Luật A Bao Cơ thống nhất các bộ lạc Khiết Đan. Năm 916, ông dựng nên nước Khiết Đan, tới năm 947 đổi quốc hiệu là Đại Liêu.
Trong thời kỳ cường thịnh nhất, vương triều Đại Liêu từng chiếm Cương vực rộng mênh mông: Bắc tới tận hồ Baikal, ngoài Đại Hưng An; Đông sát Sakhalin; Tây vượt dãy Altai; Nam tới Hà Bắc và phía Bắc tỉnh Sơn Tây ngày nay. Có thể nói họ là bá vương một cõi.
Marco Polo lần đầu tiên viết trong cuốn du ký của mình giới thiệu phương Đông với thế giới phương Tây, đã lấy Khiết Đan đặt tên cho Trung Quốc. Tới tận ngày nay, các nước nói tiếng Slave vẫn gọi Trung Quốc là Khiết Đan (Kitan hay Kitai).
Dân tộc Khiết Đan tạo nên một vương quốc quân sự hùng mạnh và một nền văn hóa rực rỡ. Chùa Liêu và tháp Liêu thể hiện trình độ văn minh của họ. Tới nay, các chùa và tháp cổ được bảo tồn tại phía bờ Bắc sông Hoàng Hà. Các công trình đều nguy nga hùng vĩ, qua ngàn năm vẫn trơ gan trước băng tuyết gió mưa.
Tháp Thích Ca tại huyện Ứng, tỉnh Sơn Tây là kiến trúc kiểu tháp kết cấu gỗ xưa nhất, cao nhất trên toàn thế giới, từng trải qua mấy trận động đất mà vẫn không bị hư hỏng. Một dân tộc sáng tạo nên nền văn minh rực rỡ như vậy thì nhất định phải có một cơ sở kinh tế và một sức mạnh kỹ thuật hùng hậu.
Theo ghi chép thì Đại Liêu đối đầu với Bắc Tống hơn 160 năm. Cuối cùng, nước tiêu diệt Đại Liêu lại là tộc người Nữ Chân từng phụ thuộc tộc người Khiết Đan.
Thủ lĩnh của tộc người Nữ Chân là Hoàn Nhan A Cốt Đả dẫn đại quân công thành cướp đất Đại Liêu. Khi đất chiếm đã đủ rộng, dân đinh đã tương đối nhiều, A Cốt Đả liền dựng nên nhà Kim năm 1115. Mười năm sau, nhà Kim thay thế vương triều Khiết Đan.
Những điều phải bàn :
Rợ Hung nô hay Hun ở bắc Thiên hạ gọi thủ lãnh là Khan chữ Nho biến thành ̀ hãn , dựa vào gốc từ Khan – hãn giới khoa bảng Trung quốc đã chế biến thành cả đống món ăn cho Hán sử .
Khan qua phép phiên thiết biến thành Khiết đan , Khế đan , Khất đan .
Hãn nghĩa là thủ lãnh biến ra quốc danh ́ Hán tức Hán quốc rồi cả Hán tộc , Hán quân .
Hán tộc̉ có Đại hãn vĩ đại :
Thành Cát Tư Hãn ; tên latinh là Genghis khan , ta thấy ngay khan chữ Nho độc âm hoá thành ̀ra hãn , thành cát thiết thát – tư là tát ta tên bộ tộc .
tên khác ông ta là Genghis khan ̀ Thiết Mộc Chân ;trong quái danh này thì Thiết là Thát chỉ tộc người , mộc chân thiết Man chỉ phương tối theo Dịch học ,Genghis khan thiết mộc chân chỉ nghĩa là Thát man .

Marco Polo và các nước Slavè hoàn toàn chính xác khi chỉ đích danh Khan -Khiết đan hay đại Liêu tồn tại từ 907 đến 1125 là Trung quốc của người Hán , không lầm lẫ̃n gì cả như người Tàu đang cố ý phao ra lừa cả nhân loại .
Bản thân tộc Liêu đã thể hiện rõ trong họ của các thủ lãnh Lưu Huyền và Lưu Tú , chính xác ra là Liêu người Liêu không phải họ Lưu.
Vùng đất Sơn Tây Hà Bắc phía Bắc Hoàng hà là đất của trước là nước Hán thời Hán Canh Thủy và Hán Quang vũ thờỉ nhà Ân là thuộc quốc Quang hay Quan nghĩa là phía Nam – Nom-nhìn xưa sau là lãnh thổ Đại Liêu hay Khiết Đan .
Cố nhập nhèm biến Trung quốc thành Trung hoa là trò gian lận …quạ đen giả phượng hoàng .
Sử Trung Hoa gọi hoàng tộc Liêu hay Khiết đan là họ Gia luật ,thực ra trên đời này làm gì có họ Gia luật , đám sử giả tối tăm nào biết : theo phép phiên thiết Hán văn thì Gia luật thiết giặc , vua Liêu hay Khiết đan chỉ là đám giặc Liêu tổ Gia luật A Bảo Cơ chỉ nghĩa là Giặc A Bảo Cơ thế thôi .
Nước Liêu bị diệt bởi người anh em Kim là nước do Kim tổ Hoàng Nhan A cốt Đả kiến lập .
Lại trò bịp nữa của đám phù thủy chữ nghĩa .
Không có họ nào là Hoàng Nhan , hoàng nhan thiết Hãn – Khan ,quái danh Hoàng nhan A Cốt Đã nghĩa thực là Hãn hay chúa rợ tên là A Cốt Đả thế thôi .
Liêu – Kim – Nguyên là rợ man ráo thì Trung hoa là đâu ?
Sử thuyết Hùng Việt đã chỉ rõ lãnh thổ người họ Hùng qua nhiều thời kì là từ phía Nam Hoàng hà chạy tới Đông Nam Á́ ngày nay ; đồng thời với Liêu – Kim – Nguyên là lãnh thổ Tam Hùng quốc :
Đại Việt hay Đại Hưng và Đại Tống -Đại Lí..
Dùng phép phiên thiết ta nhìn ra lắm điều  lí thú của RỢ sử '
Hiện nay  mọi người đều tướng tổ rợ Hung nô là thiền vu tên là Mao Dun , Mao dun là kí âm Hán văn từ Rợ ngữ , thực ra chẳng có ai tên là Mao Dun hay Mạo Đốn , đúng ra thiền vu mao dun hay mạo đốn chỉ nghĩa là chúa rợ man dã ,thiền vu phép phản là thù viên hay thù vương , còn mao dun  thiết mun - man chỉ đạm người còn hoang dại man dã .
ngoài ra ta có thể lôi ra hàng đống vua hay thủ lãnh Liêu Hán là rợ như 
Đổng Trác tướng quân bạo ngược thời Đông Hán đích thị̣  là rợ hung nô vì tên của hắn đã tố cáo ... đổng trác  thiết đát- Thát  ,còn nhiều lắm nào 
Mộ Dung thiết mung - Mông
Thác Bạt thiết thát
họ Thạch thì khá rõ cái gốc Thát 
Hết thảy cùng giống với Thành cát tư hãn chúa rợ Mông Nguyên .
Số phận đã hết sức cay nghiệt với dòng giống Hùng :
Đất đai của Đai Tống và  Đại Lí hiện đã nằm dưới móng ngựa Khiết Đan ,  Đại Việt hay Đại Hưng còn đó  nhưng thân phận và quá khứ đã bị  xóa sạch , hàng ngày ngụp lặn trong hơi thở  văn hóa văn minh của tổ tiên để lại mà lại bị Thiên hạ coi là ăn nhờ ở đậu , đến ngôn ngữ cũng chỉ là thứ ngôn ngữ hổ lốn vay mượn người Tàu đến 70-80% . đau khổ nhất là chính bản thân mình cũng cúi đầu nhận thế , sự phản bác nếu có cũng rất yếu ớt và  rời rạc thếu tính hệ thống và toàn diện ...
Thật buồn vô cùng  nhưng không sao hãy tin vào luật tuần hoàn tự nhiên ...́ Bỉ cự̣c ắt Thái lai . không bao lâu nữa đâu .

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

Lời dạy của thánh nhân từ 3000 năm trước

 Mơ hồ và thực tế hàm chứa trong Kinh DỊCH .

Quẻ Bỉ = Thiên/ Địa .

Thiên trên địa, trời trên đất dưới là một trật tự chuẩn xác sao lại bỉ.
Dịch học không dùng hệ trên dưới mà dùng bên trong và bên ngoài. Dưới là bên trong, trên là bên ngoài, bên trong là tinh thần, đạo đức, lý tưởng còn bên ngoài là đời sống vật chất kinh tế.
Bên trong mà đầy ắp lợi với lộc lúc nào cũng vậy kể cả lúc mơ cũng chỉ thấy một chữ Tiền… còn bên ngoài thì biến lý tưởng thành thực… bất cần có tài sản hay không cũng thực hiện ngay việc công hữu hóa tất cả là của chung, xã hội không còn người quản lý… chỉ có đầy tớ của nhân dân… thực lý tưởng vô cùng.
Bên trong là cái gì vô hình vô hạn, thì lại đem vào đầy, đầy dẫy những quy tắc cứng rắn buộc phải chấp nhận vô điều kiện, … tất cả đều là những thiết định vô bằng hay qui chiếu về những chuẩn mốc do chính mình dựng nên hoàn toàn chủ quan.
không bàn tiếp .

a) Lời Quẻ:

Bỉ chi phỉ nhân, bất lợi, quân tử trinh, đại vãng tiểu lại.

Ngược ngạo hay bế tắc là thời của lũ “ngợm”, hoàn toàn bất lợi, bậc trưởng nhân đừng ngã lòng, bên ngoài xã hội được tổ chức theo khuôn mẫu lý tưởng …tưởng tượng ra còn trong lòng thì đầy ắp sự tham lam của cải. (Đại vãng, tiểu lai). Lợi lộc.
Đây là thời đặc trưng của dối trá… đến tột đỉnh lừa cả chính mình… sống khiêm tốn “bình dân” đến độ vua chúa cũng phải thèm…như gia đình ông KIM bên Triều Tiên hết đời lãnh tụ bố đến lãnh tụ con …rồi còn đang chuẩn bị cho lãnh tụ …cháu… thật là 3 đời hy sinh cho dân tộc ….đến độ Bản thân mình không có chút tài sản, tất cả của mình “xài” là của nhân dân…? Đúng là thời đảo ngược nhiễu nhương…
Trong cái vũng lầy đó vẫn còn những viên ngọc trọn vẹn một tấm lòng son, Dịch học dặn dò… kiên trinh đừng ngã lòng vì chắc chắn sẽ có ngày thái lai…

b) Lời tượng: Thiên địa bất giao, quân tử dĩ kiệm đức tỵ nạn, bất khả vinh dĩ lộc.

Lời này ….Thánh nhân viết riêng cho Việt kiều toàn cầu

Trong ngoài lộn phèo đấy là tượng xấu xa (bỉ tiếng Việt là xấu xa, đáng khinh) bậc trưởng nhân phải che giấu đức sáng nơi mình đi hòng tránh nạn sát thân, không thể mưu còn lợi lộc và sự vinh quang trong tình thế đó.
Lũ đầu trâu mặt ngựa kết bè kết cánh với nhau, khống chế mọi hoạt động của xã hội, người quân tử không về phe với chúng thế nào cũng bị chúng trừ khử để thông đường trộm cắp vơ vét, trưởng nhân phải cố giữ mạng sống mình, chờ ngày lật ngược tình thế diệt sạch lũ tham quan ô lại đó .

c) Lời Hào

c.1 Hào Sơ

Bạt mao nhự, dĩ kỳ vị, trinh cát hanh

Mỗi khi chuyển thời hay đổi đời đều phải quét sạch tàn dư chế độ cũ Bỉ chuyển sang Thái… quét sạch Thái chuyển sang Bỉ cũng quét sạch.
Người có lương tri và bản lĩnh phải biết giữ gìn lập trường, kiên trinh với con đường đã chọn rồi ra khi sóng yên biển lặng phúc trach, hanh thông chắc chắn sẽ đến.

c.2 Hào nhị

Bao thừa, tiểu nhân cát, đại nhân bỉ, hanh

Được cấp trên dung dưỡng, bọn đầu trâu mặt ngựa mặc sức tung hoành, trả thù và vơ vét, riêng những người có lương tri thì thực sự bế tắc vì một bên là lý tưởng cao đẹp và một thực tế quá sức phũ phàng phơi bày trước mắt, bế tắc diễn ra ngay trong nội tâm người quân tử, ray rứt khổ sở …làm sao có thể chấp nhận dễ dàng việc mình thờ lầm chúa để bây giờ xảy ra tình cảnh này.

c.3 Hào tam: Bao tu

Gánh lấy sự nhục nhã

Bất tài vô đạo chắc chắn chỉ đắc thế một thời rồi sẽ phải gánh lấy sự nhục nhã ê chề, ra đường không dám ngẩng mặt, bia miệng còn truyền đến cả những đời sau, đấy là quy luật tất yếu không sao tránh khỏi.

c.4 Hào Tứ

Hữu mệnh vô cữu trù ly chỉ

Vận nước đã đến rồi, bình minh chiếu khắp nơi… những người tâm huyết hợp nhau ra tay đi cho muôn dân được hưởng ơn phước bởi trời.
Người Quân tử hãy sẵn sàng đón “thiên mệnh” để cứu đời, cứu người và hưởng phúc trạch từ trên cao ban xuống cho.

c.5 Hào ngũ

Hưu bỉ, đại nhân cát, kỳ vong hệ vu bao tang.

Khuynh bỉ đã thành công bọn dã man độc ác đã bị loại bỏ, mở ra vận hội hết sức tốt đẹp cho những chí sỹ có lòng yêu nước thương dân thực sự. Không được tự mãn ngủ quên trên chiến thắng, nguy cơ thoái hóa biến chất lúc nào cũng rình rập cả, bên ngoài lẫn chính bên trong tâm trí của mình, phải luôn luôn đề phòng luôn luôn cảnh giác không một chút lơ là.

c.6 Hào thượng

Khuynh bỉ, tiên bỉ, hận hỷ.

Đánh đổ được chế độ thối nát vô nhân rồi không phải mọi sự êm xuôi ngay, do hậu quả của nó để lại rất lớn lao, xã hội rã rời, lòng người giao động, quốc khố trống rỗng, hạ tầng cơ sở quốc gia nát bét do sự bòn rút của bọn vua quan thời “đen tối”, nhiều khi nợ nần phải gánh ngập đầu ngập cổ (nợ nước ngoài trước đây bọn mặt người dạ thú đã vay để … chia nhau) thành ra Dịch học báo trước khuynh bỉ… tiên bỉ.

Lời của thánh nhân sâu thăm thẳm nhưng lại rất thực , thực đến độ không ngờ …tưởng như kinh Dịch mới ra đời khoảng trăm năm nay .

Kết thúc quẻ BỈ : Đổi mới rồi …Hết thảy người Việt :

Đừng nản lòng, cùng nhau bắt tay vào việc phục hưng, huy động mọi nguồn lực trong cũng như ngoài nước (bất hà di) thế nào rồi sự phồn vinh, hạnh phúc cũng đến.

Thứ Sáu, 21 tháng 11, 2025

Vài hàng về nước Nam ..ta .

 Trước hết xin hãy tham khảo bảng chia Ngũ hành và ứng dụng .

Không phải chỉ từ năm 1839 Vua Minh Mạng nhà Nguyễn đổi quốc hiệu từ Việt Nam thành Đại Nam thì lịch sử người Việt mới có …. nước Nam ta ….mà nước Nam theo nghĩa là quốc gia ở phương Nam đã là nước của người Việt từ thời thượng cổ .
Quốc tổ đế Minh vua cha Ngọc hoàng thượng đế mất , đế Nghi hay Nghiêu tiếp ngôi định đô miền Bạch hạc ngả ba sông mở ra thời lịch sử mới gọi là Nam bang hay Nam triều , vua Nghi hay Đường Nghiêu được tôn là Nam triều thánh tổ ngọc hoàng thượng đế cũng có tư liệu gọi là Nam bang triệu tổ . ở đây triệu chỉ là kí âm chữ Nho của từ chúa hay chủ trong tiếng Việt
Xin lưu ý lưu ý tránh cái bẫy của đám ‘cạo sử gia’ Tàu cố ý gây nhiễu Việt sử thì phải hiểu cho đúng … phương Nam ở đây là phương Nam cổ xưa theo Dịch học với các Dịch tượng là phía Nam là phía của Nước – hành Thủy -màu Đen – Huyền thiên cũng gọi là đất Đường hay Thường trong nền văn minh họ Hùng như trong tên gọi đất Đào – Đường quê hương ban đầu của người họ Hùng v.v.
Nam bang trong cổ sử Việt tên Nôm là Lạc tức Lác – Nác – Nước , tên chữ là Xích qủy ( xích qủy thiết Thủy) .
Nước Xích Qủy có lãnh thổ hoàn toàn trùng đúng với nước Văn Lang tức sự thực Xích qủy chính là tiền thân của nước Văn lang , cũng gọi là đất Đường hay Việt Thường như trong câu ca dao nói về ngày giỗ bà Âu Cơ :
Tháng năm ngày tết Đoan dương
Là ngày giỗ mẹ Việt Thường Văn Lang .
Qua thời thượng cồ sử …Tam hoàng , Ngũ đế , tam vương họ Hùng bước sang thời Tần Hán . Tần Hán chính xác là Tần – Hưng người Việt chỉ có Hưng đế không có Hán đế , Hán đế Lưu Huyền và Lưu Tú là tổ của người Liêu hay Hán – Tàu …
Hưng đế – Suy đế sử Tàu cạo sửa gọi là thời Hán – Sở tranh hùng bịp lừa Thiên hạ .
Hưng đế là Nam Việt đế Lí Bôn trong sử Việt . Lí Bôn cũng chính là Lí Nam đế sử Tàu biến ra ông Lưu Bang tổ của Hán quốc , Từ Lí Nam đế ta xác ̣định thêm được Lí Phật tử là Hậu Lí Nam đế 2 vì vua tiên khởi của nước Nam hay Nam quốc . Trong sử Thiên hạ Hậu Lí Nam đế là Lưu Bị , Nam quốc của ông gọi là Tây Thục song hành với Đông Ngô thời mà sử Tàu bịp lừa gọi là Tam quốc .
Hậu Tam quốc nước ta nửa phía Đông trước thuộc Đông Ngô bị Đào Hoàng đem biếu không cho rợ Tấn , phía Tây trước về với Tây Thục sau khi Tây Thục sụp đổ bỗng mất dấu Không có tư liệi lịch sử nào ̣để lại chép về thời này trừ vài dòng tin ngắn ngủi trong sách Lĩnh Nam trích quái cho biết Rợ không nước nào …. đá́nh được phải bỏ về …
Sau khi họ Vũ văn khôi phục chủ quyền Thiên hạ từ tay rợ Bắc Ngụy gọi là nhà Bắc Châu , nối tiếp là thời rực sáng của lịch sử và lịch sử văn minh họ Hùng ở 2 triều Đại : Tùy tực Sủy – Thủy và Đường tức Việt Thường của họ Lý . Cả Thủy – nước và Thường đều là Dích tượng chỉ phương Nam màu Đen .
Giai đoạn đau buồn Đường mạt thế đã sinh ra nước Nam hay Nam chuá- chiếu nước của chúa phương Nam với vua khởi lập là Mai Hắc đế . Trong danh xưng Hắc là màu đen của phương Nam và vua Trung hưng là Phùng Hưng , Phùng là họ còn Hưng là địa danh chỉ phía Tăy Bắc Việt Nam ngày nay .
Sau Đại Đường Thiên hạ vào thời suy vong gọi là thời kì 5 đời phía Bắc và 10 nước phương Nam (phương hướng ngày nay ).
Thời Thiên hạ mạt vận dòng giống Hùng lần lượt mất hết chỉ còn trụ được ở nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngu sau đổi là Đại Hưng , đất đai có 4 châu Phong – Hoan – Giao – Quảng cộng với lộ như Hoàn của Phùng Hải em Phùng Hưng Bì la Các . chính từ thời điểm này cho đến năm 1839 vua Minh Mạng nhà Nguyễn lấy quốc hiệu là Đại Nam với từ Nam thì từ Nam  bị che lấp ẩn dấu đi thời gian gần ngàn năm .

Bản đồ Đaị Nam thời vua Minh Mạng

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2025

2 giống Hán 2 Hán quốc

 Dù trước đã có bài viết về đề tài này nhưng nay nhận thức rõ hơn tầm quan trọng của vấn đề , xin viết lại và bổ sung .

Tư liệu lịch sử Việt chép rất rõ ràng không úp mở việc nhiều triều đại Việt xưng mình là Trung quốc và riêng nhà Nguyễn còn rõ ràng hơn nhận mình là người Hán .
Việc này rà sao ? với người Việt phải chăng đây là việc kinh thiên động địa rúng động tâm hồn , lộn tùng phèo hết thảy .?
Xin bình tâm xem xét :
…Sử liệu Hán văn từ thế kỷ 12 về sau đều cho thấy, với quan điểm văn hiến- lễ giáo ở đâu thì nơi ấy là trung tâm của chính trị, các triều đình quân chủ từ Lý- Trần- Lê- Nguyễn đều tự coi nước mình là “vương quốc trung tâm” với các danh xưng tự nhận là Trung Hoa, Trung Châu, Trung Quốc.
Với ý nghĩa “vương quốc trung tâm” thì việc vua quan Việt ̣ nhận mình là Trung quốc cũng là lẽ thường , không phải riêng Việt và nhiều nước khác như Nhật và Hàn cũng thế ,
Riêng sự nhận đồng được đẩy lên đến đỉnh điểm vào triều Nguyễn, khi các hoàng đế quân chủ của triều đại này như Gia Long- Minh Mệnh- Thiệu Trị- Tự Đức và các sử gia Nho thần, coi rằng mình là hậu duệ chính thống của Hán nhân,
Các văn bản triều đình nhà Nguyễn (như Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí, Đại Nam thực lục,…) đều tự xưng mình là “Hán nhân”, còn những nhóm người đến từ ‘ngũ Hồ quốc’ được gọi bằng tên của các triều đình đương nhiệm, như Thanh nhân (người nhà Thanh), Minh nhân (người nhà Minh).
…Triều đình nhà Nguyễn cho rằng, nhà Thanh là một triều đình có nguồn gốc di rợ, họ là những người đến từ phía Bắc, và cai trị người Thiên hạ .
triều Nguyễn đã khẳng định mình mới là hậu duệ chính thống của Hán tộc (cả về mặt huyết thống lẫn văn hóa- chính trị). Đây chính là lý do khiến các Nho sĩ triều Nguyễn (từ vua đến quan) đều tự nhận rằng mình là Hán nhân.
Sử thuyết Hùng Việt có thể là liều thuốc hóa giải tâm tư bị dồn ép cực độ cho rất nhiều người .
Trong Lịch sử Thiên hạ có đến 2 tộc người lập ra 2 triều đại gọi lả Hán bị đám cạo sử dồn ép thành một trong ngụy sử Trung hoa mập mờ đánh lận con Đen lừa mọi người .
Sau khi đánh đổ nhà Tần nổ ra ̀ cuộc chiên tranh giữa Lưu Bang và Hạng Vú , sử sách gọi là Hán Sở tranh hùng .
Sử thuyết Hùng Việt cho : Hán – Sở chỉ là biến âm hay kí âm sai lệch của cặp từ lưỡng lập Dịch học :
Hên – Sui , Hơn – Thua hay Hưng – Suy
Ông Lưu Bang thắng nên sử gọi tức Hên – Hơn – Hưng vương sử Tàu biến ra Hán
Khái lược Phả hệ dòng Hán – Hưng .
Tam hoàng
Ngũ đế
Tam Đại
Tần
Hán- Hưng
Tân – Vương Mãng
Mất nước bị Hán Du Mục thống trị Sử thường gọi là thời Bắc thuộc .
………………..
Phục hưng thời Bắc Châu sau cùng truyền đến thời Thiên hạ 3 nước
Đại Việt – Đại Lí và Đại Tống sau thời Hoa Nam thập quốc .
Mông cổ và Mãn Thanh chiếm Đại Lí và Đại Tống lập ra Trung quốc ngày nay
Duy nhất Đại Việt vẫn độc lập tự chủ nối tiếp quốc thống Hữu Hùng quốc kiến lập từ thời đế Hoàng ( đế màu Vàng) .
Hạng Vũ thua nên thành Sở vương tức Sui – Thua – Suy vương
Sử Tàu viết Hán vương Lưu Bang lập ra nhà Tây Hán đây chính là điểm gút của sự tráo đổi , Đông Hán nối vào Tây Hán liền 1 mạch hợp lí qúa đi chứ người đời khó mà nhận ra .
Thực ra Đông Hán là triều đại của 1 dòng giống Hán khác .
Dân du mục phía Bắc Thiên hạ gọi chúa của họ là Khan , tư liệu Hán văn viết thành Hãn , nước của hãn là hãn quốc , lính của Hãn gọi là Hãn quân sau danh từ chung hãn biến ra danh từ riêng Hán gọi triều hay nước đầu tiên và vài nước về sau của dòng tộc Hán du mục .
Khái lược phả hệ Hán – hãn du mục
Thiền Vu Mao Dun
Lục lâm thảo khấu
Lưu Huyền Hán Canh Thủy
Lưu Tú Hán Quang Vũ
Tào Ngụy
Tấn
Ngũ Hồ thập lục quốc
Bắc Ngụy
……………………
Sau cùng là 2 triều Đại Hãn quốc Nguyên của người Mông cổ và Mãn Thanh của bộ tộc Nữ Chân rợ Đông Hồ .
Kết :
·Các triều đình quân chủ từ Lý- Trần- Lê- Nguyễn đều tự coi nước mình là “vương quốc trung tâm” với các danh xưng tự nhận là Trung Hoa, Trung Châu, Trung Quốc. là hoàn toàn Chính đáng .
·Triều đình nhà Nguyễn cho rằng, nhà Thanh là một triều đình có nguồn gốc di rợ, họ là những người đến từ phía Bắc, và cai trị người Hán.
Triều Nguyễn đã khẳng định mình mới là hậu duệ chính thống của Hán – Hưng tộc đồng thời là kẻ thù truyền kiếp của dòng Hán – Hãn du mục ..là .hoàn toàn ĐÚNG .

Đặc biệt vua chúa Việt nhiều lần nhắc đến 2 triều : đại Hưng –Hán và Đại Đường coi đấy như là những triều gương mẫu tiêu biểu của lịch sử Việt Nam .

Xin nêu 2 sự việc tiêu biểu :

Văn khắc trên vách đá vùng Tây Bắc Thân chinh Phục Lễ châu Đèo Cát Hãn do vua Lê Thái Tổ ngự chế cũng có đoạn với đại ý : “Bọn di địch là mối họa ở vùng biên cương, từ xưa đã có. Bọn Hung Nô thời Hán, bọn Đột Quyết thời Đường, bọn man mọi Mường Lễ ở phía Tây nước Việt ta cũng vậy,,,

Trong tác phẩm Việt âm thi tập, của Phan Phu Tiên có bài thơ “Đáp Bắc nhân cấn An Nam phong tục” được cho là của Hồ Quý Ly :

Muốn hỏi chuyện nước An Nam?
Phong tục nước An Nam thuần hậu.
Áo mũ thì theo chế độ nhà Đường,
Lễ nhạc thì như vua tôi nhà Hán.

Bình ngọc mở rót rượu mới,
Dao vàng mổ cá ngon nhỏ vảy,
Hàng năm, cứ đến tháng hai tháng ba,
Đào, mận đều mang sắc xuân.

Áo mão và lễ nhạc là hồn văn hóa 1 dân tộc , viết như thế coi như người xưa đã xác định lịch sử nước ta .,,, là hậu thân của Thiên hạ thời Hưng – Hán và đại Đường ,

Thứ Ba, 28 tháng 10, 2025

4 trận thủy chiến quyết định lịch sử người họ Hùng .

 Theo sử̉ hiện hành thì tring suốt dòng sử mấy ngàn năm con cháu họ Hùng đã 3 lần chiến thắng lẫy lừng trên sông nước .
1 / Trận Xích-  Bích quân Tào đại bại ;
Trận đánh diễn ra vào mùa đông năm Kiến An thứ 13 (tức năm 208) giữa liên quân Đông Ngô - Tây Thục  với quân đội trên  danh nghĩa là của triều đình nhà Hán Tư liệu Việt sử gọi là Nam Hán do Tào Tháo cầm đầu . Trận Xích Bích kết thúc với chiến thắng quyết định của liên minh Ngô Quyền và Lí Phật Tử sử Thiên hạ gọi là pheTôn–Lưu trước đội quân đông đảo hơn của Tào Tháo (sau là vua nước Tào Ngụy) chính vì lẽ này mà trận đánh được sử gọi là Xích Bích chính xác là  thất bát ý nói 10 phần quân Tào chết đến  7-8 . Cũng từ đó cặp số thất bát 7 - 8 mang thêm nghĩa là hao tổn mất mát ,Chiến thắng này đã góp phần củng cố vị trí cho hai nước người họ Hùng mà Ngô Quyền - Lí Phật tử (Tôn Quyền, Lưu Bị ) mới lập ở  Trường Giang , thắng lợi đã ngăn cản  Tào Tháo mở rộng phạm vi quyền lực rợ Hồ xuống phía Nam Thiên hạ , cũng bởi quãng sử gọi là Tam quốc này mà người Hồ còn được gọi là Tàu hay ba Tàu  biến âm của Tào Ng̣ụy - Tào Tháo Sử Việt gọi là Hoằng Tháo .
2 / Vua Lê Đại Hành đại thắng quân Tống, năm 981 
Trong tổng thể cuộc chiến chống quân Tống xâm lược , sau khi mất đất phía Đông là Quảng Đông 
người Việt kiến lập triều Đinh ở phía tây trên phần đất  Giao Chỉ và An Nam và 1 phần Quảng Tây ngày nay tiếp tục cuộc  chiến . 
 Tháng 1/981, thủy quân của nhà Tống do Hầu Nhân Bảo chỉ huy ồ ạt tiến vào sông Bạch Đằng. Vua Lê Đại Hành hay Lí Thái Tông thân chinh làm tướng cầm quân, cho xây thành Bình Lỗ, sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông dựa vào địa thế hiểm trở của sông Bạch Đằng, quân Tống  lọt vào trận địa mai phục do quân Việt  bày sẵn.
 Quân Việt lúc này gọi là quân Đại Hưng (đến đời Lí Thánh Tông mới cải quốc hiệu và xưng là hoàng đế thứ 3 nước Đại Việt)  t̀ừ các nhánh sông đổ về Bạch Đằng đánh quân Tống quyết liệt. Hầu Nhân Bảo bị giết chết, số ít quân địch tháo chạy ra biển.
Vua Lê đại Hành - Lí Thái Tông được sử ca tụng là vìi vua phá Tống bình Chiêm 
3 / Trận thủy chiến nhấn chìm 6 vạn quân Mông – Nguyên 
Theo sử sách chép lại, tháng 3/1288, biết được ý đồ rút quân bằng đường thuỷ qua sông Bạch Đằng của địch, Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy quân dân Đại Việt chuẩn bị một trận địa mai phục lớn trên sông. Quân ta đốn gỗ lim, táu… trên rừng kéo về bờ sông và đẽo nhọn rồi cắm xuống lòng sông dẫn ra biển làm thành những bãi chông lớn.
Các cánh quân thuỷ bộ bí mật mai phục sau dãy núi đá Tràng Kênh dọc bờ sông Bạch Đằng.
Sáng ngày 9/4/1288, khi đoàn thuyền của Ô Mã Nhi tiến vào sông Bạch Đằng nhân lúc nước lớn, thủy quân nhà Trần tràn ra giao chiến, rồi giả thua bỏ chạy. Trúng kế, thuyền giặc di chuyển vào sâu bên trong sông Bạch Đằng, tiến vào bãi cọc.
Quân ta đợi cho thủy triều xuống mới quay thuyền lại và đánh thẳng vào đội hình địch. Thủy quân Đại Việt từ các hướng nhanh chóng tiến ra sông Bạch Đằng, với hàng trăm chiến thuyền chặn đầu địch ngang trên sông.
Thực sự người Việt không phải 3 lần mà có tới 4 chiến thắng trên sông nước  .
4 / Chiến công bỏ sót : Đại Việt đánh bại quân Nam Sở  thời ‘Thập quốc Hoa Nam’ .
Do xem nước Đại Việt Đại Hưng thời kinh đô ở Quảng châu không phải là ‘nước Ta’mà sử Việt đã bỏ sót 1 trận thủy chiến quan trọng .
Thực sự Lịch sử người họ Hùng có tới 2 Ngô vương . 
Ngô vương I là Ngô Quyền sử Thiên hạ gọi là Tôn Quyền , mà tên tuổi đã gắn liền với trận Xích Bích đã viết   .
Theo Sử thuyết họ Hùng thì nước ta còn có Ngô vương II là Lưu Nghiễm ;vua kiến lập nước Đại Việt đô ở thành Phiên Ngu hay Ngô nay là Quảng châu . 
Năm 928, thủy quân Sở (Thập quốc) (đời vua Mã Ân) tiến công Đại Việt đô ở Phiên Ngô , quân Sở bao vây Thành phố Triệu khánh nay ở Quảng Đông ,  Ngô vương - Lê Nghiễm  lệnh cho Tả hữu nhai sứ Tô Chương (蘇章) đem 3.000 "nỏ thần" (cung thủ tài giỏi), 100 chiến hạm cứu Triệu Khánh . 
Tô Chương giăng dây sắt chìm dưới sông, hai bên bờ căng dây, đắp đê dài để giấu quân. Đến khi giao chiến với thủy quân Sở, Tô Chương giả vờ rút lui, lừa quân Sở đuổi theo; sau đó hạm đội Sở lọt vào nơi phục kích, không thể tiến thoái, bị quân Việt bắn tên, quân Sở bại trận phải rút chạy về nước chấm dứt mộng xâm lược .

Ghi chú lịch sử …

Tư liệu lịch sử thời trung đại đã chỉ rõ :Nước Đại Việt – Đại Hưng kinh đô ban đầu đặt ở Quảng Châu , là 1 trong Hoa Nam thập quốc lãnh thổ gồm An Nam tức Phong châu và Hoan châu hợp lại cộng với Giao châu và Quảng châu .

Sơ đồ nước Đại Việt từ thuở lập quốc .

Sơ đồ cái lưỡi bò 9 đoạn thiêng liêng của tổ tiên truyền lại mà cha con giống Hồ ta quyết giữ .
Việc khẳng định Lãnh thổ Đại Việt gồm Phong châu và Hoan châu hợp lại cộng với Giao châu và Quảng châu đã khiến cái gọi là… chủ quyền lịch sử từ thời xa xưa trên vùng biển 9 đoạn và mới thêm vào 1 đoạn nữa là 10 của các ông Tàu khiến cả hết thảy bàn dân Thiên hạ cười lăn cười bò ….
Có lẽ Việt sử sắp phải ghi thêm chiến công thứ 5 trên sông nước

Thứ Sáu, 24 tháng 10, 2025

Tượng Lâm vùng đất bí ẩn .

 Sách ‘Mộng Khê bút đàm’ viết :”…Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu thời Hán, Đường. Thời Ngũ đại loạn lạc, Ngô Văn Xương trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng. Sau Văn Xương bị Đinh Liễn giết, lại có đất này. Năm thứ sáu niên hiệu Khai Bảo của quốc triều, Liễn mới theo về, trao chức Tĩnh Hải Quân Tiết độ sứ; năm thứ tám, phong Giao Chỉ Quận Vương…

Đoạn sách ngắn này chứa điều rất quan trong của Lịch sử Việt Nam .Thời Ngũ Đại” (Ngũ Đại Thập Quốc) là một thời kỳ hỗn loạn trong lịch sử Trung Quốc, kéo dài từ năm 907 đến 960, sau sự sụp đổ của triều Đường. Thời kỳ này được đánh dấu bằng việc phía Bắc Trường giang Trung Quốc trong thời gian (907-960) năm triều đại liên tiếp nhau của rợ Hồ : Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán và Hậu Châu. cai trị, phía Nam Trường giang từ 907 đến 979 chia thành 10 nước cuả người Thiên hạ được gọi chung là Thập Quốc. 

… loạn lạc thời Ngũ đại … “trước có An Nam sau chiếm Giao Quảng ”…làm chủ lĩnh Nam thời này thì không thể ai khác là anh em Lê Ẩn – Lê Nghiễm ; sử Tàu gọi là Lưu Ẩn và Lưu Nghiễm…vấn đề là :sao ở đây lại là Ngô văn Xương ? , theo Phiên thiết Hán văn thì văn xương thiết vương , không có ai tên là Ngô văn Xương , Lê Ẩn xây Hưng vương phủ ở thành Phiên Ngu Quảng châu, nên anh em ông được gọi là Ngô vương theo nghĩa là vương thành Phiên ngu hay Phiên Ngô .

917 đến năm 971, chủ yếu là trong thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc (907-960),
Vương quốc này mở rộng kinh đô từ Hưng Vương Phủ , ngày nay là thành phố Quảng Châu.
Cùng năm này (911) Lưu Ẩn mất, em trai cùng cha khác mẹ là Lưu Nghiễm lên thay. Tới năm 917, Lưu Nghiễm  tuyên bố thành lập một vương quốc mới, ban đầu gọi là Đại Việt , nhưng chỉ qua năm sau (918) đổi tên thành Đại Hán . Vì cái cớ họ của ông là Lưu  là họ của Lưu Bang  nhà Tây Hán và ông ta coi mình là hậu duệ Hiếu Cao tổ Lưu Bang .
Như thế theo Mộng khê bút đàm thì Nước Đại Việt – Đại Hưng kinh đô ban đầu đặt ở Quảng Châu , là 1 trong Hoa Nam thập quốc lãnh thổ gồm An Nam tức Phong châu và Hoan châu hợp lại cộng với Giao châu và Quảng châu .

Khởi từ An Nam sau chiếm Giao Quảng lập nên Đại Việt thì nước ấy không phải nước ‘TA’ thì là nước nào ?, không hiểu sử gia đời trước tư duy kiểu gì mà đẻ ra sự nhìn nhận quái lạ Nước đại Việt chiếm nước ta bắt Khúc thừa Mỹ đem về Quảng châu ???, các quan Lý khắc Chính và Lý Tiến bổ từ trung ương về cai quản địa phương biến thành 2 ông quan xâm lược sang cai trị …nước ta .

Sử thuyết Hùng Việt cả quyết việc nhà Đường đổi phủ đô đốc Giao châu thành phủ đô hộ An Nam là sai hoàn toàn , thông tin nhà Đường đổi An Nam thành Tĩnh Hải quân cũng sai nốt vì thời Đường đất nội thuộc và ngoại thuộc có ranh giới rõ rệt không thể hoán chuyển . , Giao chỉ là lãnh thổ nhà Đường từ khi mới lập triều còn An Nam là đất Nam Chiếu mới thu phục , dân Nam chiếu là dân mới quy phục triều Đường .

  • Trong sử Việt 2 từ Tượng -lâm rất đặc biệt …
  • Tượng lâm nếu bỏ chữ Lâm còn chữ Tượng tên 1 quận của nhà Tần . nay là lãnh thổ nước Lào triệu voi với thủ đô là vạn tượng 10 ngàn voi .
  • Tượng lâm nếu bỏ chữ Tượng thì còn chữ Lâm chỉ đất Lâm Ấp của Khu Liên .sau là đất Phạm Hùng tướng Mường.hiện nay sử đang lầm coi Lâm ấp là tiền thân của nước Chiêm thành .
  • Tượng lâm tam sao thất bản thành ra Đường Lâm mà người Việt vẫn gọi là ̣đất 2 vua Phùng Hưng và Ngô Quyền hay Ngô vương .
  • Tượng lâm nếu bỏ chữ Tượng thì còn chữ Lâm chỉ lộ Lâm An của Phùng An con Phùng Hưng sau phát triển mở rộng lên Vân Nam Quảng Tây và cả Tứ Xuyên là lãnh thổ Nam chiếu thịnh thời ,
  • Lâm ấp cũng là Lâm An , thự̣c ra lâm an là Nam an kí âm sai đi , Nam an lật kèo thành An Nam đô hộ phủ đất cũ mà mới , mới mà cũ của nhà Đường .
  • Nhà Trần gọi người An Nam là ngườ̉i ‘Trại’, nước ta bên cạnh Kinh trạng nguyên có Trại trạng nguyên .
  • Tóm lại những đất : Tượng , Tượng Lâm ,Đường lâm , Lâm ấp , Lâm an , An nam , và Nam chiếu xưa chỉ là 1 vùng đất với nhiều tên lịch sử và trừ đất Lào ra đấy chính là đất Hưng hoá còn gọi là xứ Đoài cộng với xứ Nghệ của Việt Nam hôm nay .
  • Như đã viết trong 1 bài viết trước :
    Sử thuyết Hùng Việt cho triều Lí quãng những năm 970 – 1225 vua Lí Thái tổ là
    Đinh bộ Lí khắc Chính và Lí Thái Tông là Đinh Liễn – Lí Tiến , Thái Tông còn
    gọi là Đại Hành hoàng đế , do 2 vua đầu nhà Lí đã ‘giả xưng’ họ Lê để danh chính ngôn thuận tiếp nối vương triều đại Việt kinh đô ở thành Phiên Ngô phía Đông do các vua họ Lê mà sử Tàu đã cạo sửa thành họ Lưu kiến lập nên Lí Thái tông Lí Tiến chính là vua Lê Đại Hành phá Tống bình Chiêm trong sử Việt .
    Câu đối ở Đình Dương Lôi Tân Hồng – Bắc Ninh  đã chỉ ra sự thể này :
    李核 出五蘝肇嗣和刀天 應瑞
    Lý hạch xuất ngũ liêm, triệu tự ‘hòa đao’ thiên ứng thụy
    蓮花開八葉結成木子地鐘靈
    Liên hoa khai bát diệp, kết thành ‘mộc tử’ địa chung linh.
    Tạm dịch:
    Mầm Lý sinh năm cây, dựng nghiệp từ họ Lê trời cho điềm lành
    Hoa Sen mở tám lá, kết thành họ Lý ở đất linh thiêng.
    “Hòa đao” 和刀 là chiết tự của họ Lê黎
    “Mộc tử” 木子là chiết tự của họ Lý 李
    Đây chính là lịch sử nước Đại Việt Đại Hưng tóm lược:
    Nước Đại Việt – Đại Hưng có 2 triều đại tiếp nối nhau  : phía Đông với 5 vì vương họ Lê : Lê Ẩn Lê Nghiễm Lê Phần Lê Thịnh và Lê Sưởng , kinh đô ở  thành Phiên Ngu – Quảng châu và phía Tây của 8 vua họ Lí  (2 vua đầu phải giả xưng họ Lê)  trước định đô ở Hoa Lư Ninh Bình sau dời về thành Thăng long tức Hà nội ngày nay . Lí công Uẩn không thể tiếp nối nhà Lê của Lê Hoàn vì triều đại này chính thức chỉ là 2 đời Lê Hoàn và Lê long Đĩnh làm gì có 5 đời…‘hòa đao’ thiên ứng thụy .
    Trong bài phân tích ý nghĩa bài thơ sấm ngôn ‘sét đánh cây gạo’tiên báo việc lên ngôi của vua Lí Công Uẩn đã viết trước đây có 2 câu :
    Câu 5 – 震宮見日
    Chấn cung kiến nhật
              Đông mặt trời mọc
    Câu 6 -兑宮隠星
    Đoài cung ẩn tinh
    Tây sao náu mình chỉ ra triều Lí phía Tây trên đất Giao chỉ tiếp nối triều Lê phía Đông đô ở Phiên Ngô Quảng Đông , triều Lê và Lí theo sử Việt hiện nay hoàn toàn không khớp với thông tin này …cả 2 đều định đô trên đất Giao chỉ chẳng hề có ai Đông ai Tây như viết trong bài thơ thần..
    Theo sử hiện nay nhà Lý thời này có tổng cộng 9 đời vua sao ở đây lại chỉ có 8
    ? , thưa theo suy đoán của người viết thì triều cuối cùng của Lý chiêu hoàng do đã nhường ngôi cho chồng người họ Trầnnên không thể coi đó là 1 triều đại nhà Lý mà phải kể là triều đầu của nhà Trần .
    Tóm lại là sách sử Việt hiện nay đã mắc sai lầm nghiêm trọ̣ng ở thời kì dân tộc
    phục Hưng vô cùng quan trọng mà nền độc lập tự chủ kéo dài đến tận hôm nay .

Thứ Tư, 22 tháng 10, 2025

LAN MAN CHUYỆN NGÀY XƯA

 


Ông trời lấy đi của ta một phần hạnh phúc, nhưng cũng cũng bù lại cho ta một phần … ở nơi ấy có trường lớp nhà cửa khang trang vào hạng nhất nước, nhưng hơn hết là nơi ấy có Thầy ra Thầy, Trò ra Trò, Bạn đúng là Bạn
Trường chúng ta với hai dãy nhà đồ sộ vuông vức như trụ sở Liên Hợp Quốc, các con đường nhỏ là dãy nhà máy cong trông tựa như như tòa nhà hình con sò nổi tiếng của nước Úc… Nhưng có lẽ chúng ta nhớ nhiều nhất là cái sân banh nơi mà máu đen đỏ ăn thua được ký thác vào vật tròn bằng da… la đó, hét đó rồi cũng tiu nghỉu ở đó… thằng thì bảo lớp mình đá hay quá, còn thua thì …rõ ràng tại xui .
Sân banh của chúng ta cũng không tốt gì lắm, mặt sân không phẳng, còn cỏ thuộc vào loại xấu, khung thành không có lưới, nhưng không đâu có được như trường ta, cái sân banh ấy, ngày cuối cùng của cuộc chiến phải đón chiếc trực thăng ko mời mà đến,có lẽ họ thiếu chỗ nên mượn tạm khoảng không gian, chứ mình đâu có quan trọng đến độ họ phải đến chở đi …Hai ngày sau đó nó trở thành trận địa của một đơn vị phòng không, mặt cỏ úa phải oằn mình đỡ cái bệ pháo cho nòng súng chỉa lên trời, đúng là sự đổi đời, thực tội nghiệp cho cái sân banh của chúng ta phải làm nhân chứng cho cảnh” tang thương dâu bể ” đó .
Nhớ lắm cái nhà xe treo ngược bánh lên trời, có khi bánh còn trên giá mà xe thì lăng kền dưới đất, những năm sau khá lên, đầy xe gắn máy nhưng có bao giờ thấy mất xe, dù bãi xe không có ai trông chừng ! thật tốt lành phong cách con người đã rõ, ngay từ khi còn bé * mà ngày ấy đúng là lũ trẻ con , có khi đi học, trời mưa tầm tả ướt như chuột lột vào lớp thản nhiên cởi quần vắt lên thành cửa sổ, rồi ngồi chồm hỗm trên ghế nghe Thầy giảng bài, cũng may lớp này toàn dân ” húi cua ” Thầy không hề trách, trái lại nhìn đám học trò đầy ái ngại… chúng nó còn bé quá, có biết gì đâu?
Ở nơi ấy đẹp vô cùng mỗi buổi đều có đàn tiên giáng trần và về trời..( khu nội trú ) những tà áo dài trắng thấp thoáng bay trong nắng ám ảnh “em về áo lụa tung bay, dáng em trong nắng ngập tràn hồn ta ” về ban chiều là buổi học của các em nhi đồng Đệ Thất, Đệ Lục… đẹp vô ngần… nón lá nghiêng che và tà áo nhẹ bay đến vở kịch” Hồ Thiên Nga” cũng chỉ đến thế là cùng ! mà nghĩ cũng lạ cả một rừng tiên như vậy mà rất ít cặp vợ chồng cùng họ Quốc… có lẽ thời ấy các “chị” lớn sớm hơn nhưng vì lễ giáo cương tỏa vì sự nghiêm khắc của văn hóa nên nào dám đi bước trước… còn đám” đực “chúng tôi ở tuổi ấy là một đám”cả đần” và còn rất nhiều chuyện về các anh ” cả đần ” …nhưng khi đủ lớn biết tìm bạn thì đã xa trường xa lớp… nhiều năm ! phải chi trường ta có ngày hội trường hàng năm , để lủ con bốn phương tụ họp thì hay biết mấy .. thoắt cái đã vài chục năm ! mới có dịp hàng năm gặp lại các mùa tri ân để lão ông, lão bà móm mém” ông nội, bà ngoại “nói chuyện ngày xưa cứ tiếc nuối giá mà….Giá mà ….ngày ấy ! tại ông hay tại tôi…
Thôi tất cả tại trời ! !!
…Đâu phải tại mình thiếu” văn hóa ” thừa nữa là đằng khác…. nhưng cứ gặp nhau là…. mày tao, từ ngữ ở trong ruột nó rơi ra, chứ có phải do mình chọn đâu ! bạn bè cứ họp lại là nói chuyện ngày xưa, say sưa trong cái ngày xưa ấy … có những khoảnh khắc xoay ngược thời gian vài chục năm, được sống một lúc hóa thân xanh tóc trở lại – mặt không có nếp xếp ly ! Ôi, thật sung sướng bao nhiêu – bao nhiêu trăn trở, khó khăn được giải bày cùng nhau giải quyết được nhiều khó khăn cuộc sống, có thằng đi học lại đại học , bạn bè chung góp lại giúp đỡ ! giờ đây cũng thành danh, giúp cho con cháu khi chúng gặp trắc trở !
…Không phải chỉ với bạn mà với Thầy Cô cũng vậy ! giờ đây Trò đứng bên Thầy tóc bạc như nhau…từ điển của loài người phải thêm vào cặp từ “lão Thầy, lão Trò ” thời gian không làm cho Thầy Trò ta xa cách, trái lại rõ ràng là thêm gần. Nhưng Thầy vẫn là Thầy, Trò vẫn là Trò, gặp nhau ta đâu có sống ở đây lúc này, mà đang ở ngày xưa …
lúc Thầy trên bục giảng và Trò ngồi chống tay vào cằm, lúc chăm chú lắng nghe, lúc lơ đãng nhìn trời xanh xanh…
… Thầy nói cũng gật, thầy chẳng nói gì cũng gật …thì ra đang ngủ gật. Đám ranh con tụi em có lúc nghịch thật nhưng chưa bao giờ hỗn láo. Suốt đời học trò chỉ một lần duy nhất… . Thầy Khoa ngứa khi ngồi vào bàn, nghi là bị “mắt mèo”… cả lớp bị bác “cá Kình” Tổng giám thị cho ra đứng ngoài sân để tìm thủ phạm … nhưng các Thầy ơi ,gần 40 năm qua rồi “vụ án đó,” vẫn chưa có lời giải đáp ! nếu sự việc là có thực thì đứa nào đó đã biết lỗi lầm và xấu hổ lắm nên đã đào lỗ chôn sâu tất cả …
…Ở nơi ấy là quãng đời đẹp nhất của mình vô âu , vô lo cùng bạn bè sống thật hồn nhiên ..
Nhớ những buổi tập quân sự xếp hàng, lớn đứng trước , bé đứng sau.. 1,2..1,2…bước đều bước… chỉ được một quãng là chẳng còn hàng ngủ gì nữa, vì một bước của đứa lớn nhất gấp rưỡi bước của đứa xếp hàng cuối cùng ..
Nhớ giờ Anh văn của thầy Đạt có tên lên bảng viết “I’m go” thế là chat, chat,…. chat “I’m go” ” I’m go” này mấy cái cán chổi một lúc . Làm sao quên được hình ảnh thầy Phạm Nghệ “mình hạt xương mai “leo lên cái bàn ăn của khu nội trú chỉ huy dàn đại hợp xướng “đường chiều mịt mù cát bay ” da diết nhớ quá các bạn ơi !
Rồi đám học trò của Thầy Khiết hoa tay hoa chân thế nào mà vẽ huy hiệu của trường mình 10 bài thì đến 9… vẽ cái nón sắt trông lại ra như cái nón cối… thế mới nên nỗi này …
Nhớ những tà áo trắng thản nhiên ôm thùng xin tiền …qua phố, qua chợ… để cứu trợ bão lụt miền Trung …hình ảnh ấy thật đẹp vô cùng- toàn vẹn cả ngoài lẫn trong .
Nhớ đám nội trú nam tay chân lỡ kềnh lỡ càng , lấy băng quấn lại trông như võ sĩ quyền anh trước giờ ra trận… đó là hậu quả của món chả cá “quá đát ” của ông Thượng sĩ Uyển… mà một khi đã thành sẹo thì đâu có bao giờ hết được, nên cứ còn thương còn nhớ mãi nơi ấy !
Nhớ lắm đội banh trường ta …luôn khiêm tốn nhường nhịn mọi đối thủ mãi sau mới biết nguyên nhân khi có trận giao hữu giữa thầy giáo trường ta và huấn luyện viên trường Thiếu Sinh Quân… thì ra “Thầy Đời” huấn luyện viên trường… không hề biết đá banh. ……Nhớ những đêm lửa trại trên bờ biển Vũng Tàu, đám “đực rựa “trường ta được nhất về” múa” trong tất cả các trường trung học ở Sài Gòn …điệu múa” trăn” với những thân trần nhể nhại mồ hôi dưới ánh lửa bập bùng trở nên huyền ảo uốn lượn làm mê hoặc hàng ngàn trại sinh .
Ở nơi ấy còn có điều rất đặc biệt, có đơn vị nào, cơ quan nào mà từ ngày khai sinh đến ngày khai tử chỉ duy nhất một lãnh đạo. Bác Quan hay thầy Trương Khuê Quan cũng độc đáo lắm. Thường ngày bác vẫn đi chiếc xe Jeep cũ mèm thứ thời Đệ Nhị Thế Chiến… nhưng ngay khi đổi đời bác đem trả lại trường chiếc xe Peugeot 404 bóng láng loại xe này, thời ấy bộ trưởng cũng chỉ mơ. Thì ra ra thời gian đó bác có mà không xài … hay không dám xài trước mắt lũ trẻ “côi cút ” , âu cũng là cách xử sự rất “sĩ “, hôm ấy một ngày sao giờ G, tôi đến trường trình diện, lúc này không còn là học trò nữa mà là một (quản thủ thư viện đương chức ) thấy bác tôi giật mình tưởng là lão ba Tàu mua heo dạo, áo bỏ ngoài quần, đầu đội cái nón cối nhựa , cỡi chiếc xe đạp sườn ngang. ……Tất cả tập trung ở nhà ăn khu nội trú cũ , bác” ngoại giao ” sao đó mà được những người tiếp quản cho phép bước lên” sân khấu” đường hoàng xưng mình là Viện trưởng, “cảm ơn tất cả mọi người đã cùng hợp tác với mình bao năm qua, và xin chào từ biệt.”
Lúc này mới nhận ra sĩ khí lâu nay, vẫn nén trong lòng người trí thức và chỉ tỏa ra đúng nơi, đúng lúc . Các bạn có biết không ? thời điểm đó đầu óc mọi người như đeo đá, với tâm trạng của một sinh vật chờ chết mà còn nói lên được những lời ấy dù đơn sơ vắn gọn nhưng rất chân tình, thực xúc động lòng người vô cùng !
Xin thắp nén nhang cho hương hồn một người rất đáng kính trọng- người ” cao nhất” ở nơi ấy của chúng ta .
Đẹp biết bao nhiêu những kỷ niệm, chúng ta đã lớn lên trong cái không gian ấm áp tình người ấy !
Hỏi làm sao quên được… chuyện ngày xưa

Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2025

Sử thuyết Hùng Việt : chiến thắng sông Bạch đằng của Ngô Quyền .

 Đám thổ phỉ Lục lâm thảo khấu sau nổi loạn chiếm được kinh đô của Vương Mãng nhà Tân tôn tướng cướp người Liêu là Lưu Huyền chính xác là Liêu Huyền làm Đại Hãn lập nên nước Huyền Hán , trong danh xưng thì từ Liêu chỉ tộc người và Huyền có nghĩa là màu Đen màu của phương Nam xưa không phải là tên gọi , chúng dựng nên nước gọi là Huyền Hãn , nghĩa là nước của chúa rợ phương Đen , Huyền hãn mau chóng bị quân Xích Mi của giáo chúng đạo giáo nổi lên đánh diệt , Để thay thế quân Lục lâm thảo khấu ở phía Đông lúc này gọi là Hãn quân đã tôn tướng cướp thứ 2 là hãn Quan Vũ lên ngôi đại hãn lập nên nước Đông Hán ở Sơn Tây – Hả Bắc năm 25 . Chỉ hơn trăm năm tồn tại triều Đông Hán trở nên hủ bại cùng cực sử gọi là thời Hán mạt , vua tức Đại Hãn chỉ còn là kẻ bù nhìn giữ ngai , quyền hành trong nước do đám quyền thần nắm cả , vua chẳng còn ra vua , các tướng tha hồ chia chác , cường bạo nhất trong số này là Đổng Trác 1 tướng người Khương phía Tây . Đổng Trác đã dám vào cung hiếp cả vợ vua , công khai bắt công chúa Hán về làm vợ bé mà chẳng ai làm gì được , vài tướng Đông Hán có máu mặt như Viên Thiệu chỉ biết cố thủ vùng Sơn Tây Hà Bắc , Tào Tháo lo giữ Sơn Đông chẳng còn ai để ý đến thảm cảnh của Thiên tử nhà Đông Hán nữa .

Sau cuộc khởi nghĩa khăn vàng 184 – 205 của con cháu họ Hùng , triều đình Đông Hãn đã lung lay tận gốc; Tào vương nhanh tay cướp được thiên tử đem về Đông từ đó mặc tình thao túng Thiên hạ cuối cùng phế luôn vua Hán chấm dứt triều Đông Hán lập nên nước Tào Ngụy thay thế , Tào Tháo bố kiến lập nhưng Tào Phi con Tào Tháo mới được sách sử coi là vua đầu tiên của nước Tào – Ngụy ở Sơn đông – An Huy ;

Bình ổn phía Bắc rồi Tào Ngụy tiến xuống phía Nam tạo ra thời sử Tàu gọi là thời Tam quốc , danh xưng người Tàu nước Tàu xuất hiện trong lịch sử song song vởi danh xưng Hán , người Hán nước Hán từ đó .

Thiên hạ lúc này Phía Bắc do nước Tàu làm chủ .Phía Nam thì người Họ Hùng nổi dậy đánh đuổi quân rợ chiếm đóng thu hồi chủ quyền , ở miền Đông cha con Dương Diên Nghệ – Ngô Quyền kiến lập nước Đông Ngô , Dương diên Nghệ và Tôn Quyền được sử Tàu gọi là Tôn Kiên và Tôn Quyền . ở phía Tây Lí Thiên Bảo tức Lưu Biểu và Lí Phật tử tức Lị́ Bự hay Lưu Bị lập nước Tây Thục . Sở dĩ không có sự thống nhất tên nhân vật lịch sử vì 2 dòng sử dựa vào các tiêu chí khác nhau mà định danh , Tôn vốn là từ chung chuyển nghĩa của từ Cao cả trong Việt ngữ nghĩa chính xác là …bề trên tức thủ lãnh còn tên gọi họ Dương của dòng sử Việt thì Dương vốn gốc là Dịch tượng chỉ phía Đông , ‘Dương công’ nghĩa là thủ lãnh phía mặt trời mọc ngược với ‘Cửu công’ nghĩa là thủ lãnh phía Tây dựa vào cặp số 4-9 là Dịch tượng chỉ phía Tây . lại nữa tại sao cha họ Dương con lại là Ngô Quyền , do chưa lập đế nên Dương diên Nghệ chỉ là thủ lánh nghĩa quân phía Đông tức mới là Dương công còn danh xưng Ngô Quyền là do vua đã xưng đế kiến quốc , Ngô là tên nước .

Mấu chốt để nhận ra Dương diên Nghệ – Ngô Quyền chính là Tôn Kiên và Tôn Quyền trong dòng sử Thiên hạ là thông tin sử Việt …Kiểu công Tiễn phản bội sát hại chủ tướng Dương đình Nghệ , sau Ngô Quyền từ Á́i châu kéo quân giết Kiểu công Tiễn trả thù cho bố vợ .

Thực ra lịch sử chẳng có ai họ Kiểu tên là Tiễn , mà Kiểu công chính là chức danh cùa Lưu Biểu , tiễn là cây tên hay mũi tên , mũi tên của Kiểu công là mô tả sự việc khi Dương diên Nghệ tức Tôn Kiên kéo nghĩa quân Đông Nam đánh chiếm kinh đô Lạc Dương của Đông Hạn , chỉ 1 trận thôi đã đuổi vua tôi Hán đế – Đổng Trác trốn chạy về đất rợ Thát phía Tây , Tôn Kiên tịch thu ấn truyền quốc của Hán tộc rồi rút về Nam không ngờ giữa đường bị Hoàng Đồng bộ tướng của Cửu công Lưu Biểu phục binh dùng cung tên bắn chết tức đúng là Dương công Tôn Kiên chết vì Kiểu công tiễn tức mũi tên của Kiểu công ;

Liên minh dân tộc Thục – Ngô có chiến công vang dội khiến cường địch là nước Tào – Ngụy táng đởm kinh hồn là trận thủy chiến trên Trường giang, người Việt gọi là Bạch Đằng Giang, do nghĩa Trường giang và Tràng kênh là 1 nên Việt sử lầm lẫn cho sông Bạch đằng của Ngô Quyền là vùng biển Hải phòng ngày nay .. Sử Việt Nam gọi đây là thắng lợi hiển hách của Ngô Quyền chống Nam Hán. Sử Trung Hoa gọi là trận Xích Bích và xác định Xích Bích là một khúc sông trên Trường Giang. Thực ra Xích Bích là biến âm của ‘Thất Bát’ ý chỉ trận đánh ấy Hãn quân của Tào Tháo 10 phần chết 7, 8 hay 70%, 80%. Sau này xích bích, thất bát còn tạo ra nhiều thành ngữ như ‘Thất điên bát đảo’ hay ‘xất bất xang bang’. Tất cả đều chỉ sự đại bại …đòn đau quá đến độ quáng gà mất cả phương hướng , Xích bích còn là biến âm của ‘sạch bách’ có nghĩa là ‘chẳng còn gì’ chỉ sự thảm hại của Tào Tháo và nước Tàu sau thất bại này.

Sử Việt Nam trong trận Ngô Quyền đại phá quân Hán gọi Tào Tháo là Hoàng Tháo; có thông tin không chính xác là Hoàng Tháo chết trong trận Bạch Đằng Giang, Sự thực ông ta vẫn còn sống và gây dựng đế nghiệp cho con cháu họ Tào ( Tề → Tào ) hay Tàu -Tầu .

Người Hùng Việt trong 5000 năm dựng và giữ nước ngoài chiến thắng trên sông Bạch Đằng của Ngô Quyền còn ít nhất 3 chiến công hiển hách khác trên sông nước , mong rằng có người đủ tâm và đù tầm và đủ thời gian để xem xét 1 cách trọn vẹn đầy đủ những chiến công này của cha ông ngày trước ..

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2025

Thục An Dương Vương truyền kỳ – TT

 Thục An Dương Vương truyền kỳ,

Nguồn : Thục An Dương Vương truyền kỳ, Hồi I – Bách Việt trùng cửu

Hồi III

Trăm anh em phân bình thiên hạ
Một Dịch kinh đúc kết trống đồng

Sau cuộc Phong thần ở núi Vệ Linh, Thái Công Khương Thượng trở về đất phong của mình là nước Tề, ở vùng ven Biển Hồ. Cơ Phát lên ngôi xưng Thiên tử và dời lại kinh đô về đất Cảo ở Ai Lao (Âu – Vân Nam). Đất Âu với Cảo kinh là vùng phía Tây Văn Lang. Đất Lạc trở thành vùng đất phía Đông của nước Văn Lang.

Các đại công thần lập quốc khác cùng đều được phân phong tương ứng theo công trạng. 2 đại thần lớn nhất lúc này là Chu Công Đán và Thiệu Công Thích.

Chu Công Đán là một trong trăm người em của Hùng Quốc Vương Cơ Phát. Ông được phong ở đất Lào (Lỗ) nhưng không về nước mà ở lại triều đình. Võ Vương mất, con trai lên ngôi là Chu Thành Vương, thì Cơ Đán được giữ chức Thái bảo, còn gọi là Lỗ quốc Thái sư, tức thần Cao Lỗ.

Cao Lỗ dùng chiếc “móng rùa” Dịch lý mà chế thành trấn bảo của nước Văn Lang là trống đồng. Ông là người đã phát triển Dịch học từ thời Lang Liêu Văn Vương, đặt ra các lời hào cho 64 quẻ của Kinh Dịch. Cũng Chu Công là người đã lập nên khu vực Lạc thành ở Đông Ngàn Cổ Loa, làm nơi an trí đám ngoan dân dòng dõi nhà Ân tại đây.

Lỗ quốc lúc này bao gồm vùng đất hai bên bờ sông Mã, mà trung tâm của nó là vùng Thanh Hóa. Cao Lỗ được thờ ở đây dưới tên Đồng Cổ Sơn thần, nghĩa là vị thần tổ trống đồng (Sơn = tổ). Vùng đất trống đồng Đông Sơn chính là nước Lỗ của Chu Công.

Người anh em cùng bọc  khác là Thiệu Công Thích, được phong ở đất Yên. Nước Yên nay ở quãng miền Trung Việt. Cũng như Chu Công Đán, Cơ Thích ở lại trong triều phụ giúp Chu Thành Vương, dẹp phản loạn. Ông làm đến chức Thái phó trong Thục triều. Nói về ông có điển tích cây “Cam đường bất phạt” lấy từ Kinh Thư thiên Thiệu Cáo, khi Thiệu Công dùng đạo trời khuyên vua hãy nhân từ mà tha cho dân đất Lạc (tức hậu duệ của Hùng Vương được an trí tại đây).

Thời Thành Vương nước Việt Thường, là con cháu nhà Hạ Trung hưng ở vùng cửa sông Dương Tử cử sứ giả qua ba lần thông dịch vào Cảo kinh cống Chim trĩ trắng, chính thức gia nhập vào thiên hạ của nhà Chu. Chu Công ban cho sứ giả Việt Thường cỗ xe chỉ Nam dẫn đường. Sứ giả Việt Thường đi dọc sông Mê Kông qua các nước Tề (Phù Nam), Lỗ (Lâm Ấp) rồi men theo bờ biển Đông mà về nước.

Người anh em khác trong bọc trăm trứng của Hùng Quốc Vương là Cơ Cao. Khi Hùng Quốc Vương phạt Đế Tân, Cơ Cao cầm búa nhỏ, Cơ Đán cầm búa lớn đi hộ vệ. Sau này Cơ Cao tiếp quản việc cai trị ở Lạc Ấp và có công ổn định được đám ngoan dân tại đây. Vì thế nên ông được phong là Tất Công (tất trong hoàn tất, lấy ý của thiên Tất Mệnh trong Kinh Thư). Cơ Cao là tổ của Phan tộc, đất phong ở Phù Nam. Ngày nay ông được thờ ở vùng Thị Cấm Xuân Canh tại Hà Nội với tên Phan Tây Nhạc.

Trăm anh em của cùng một mẹ Âu Cơ đã chia nhau nơi đầu núi góc biển, an định Thiên hạ, đồng tôn Hùng Quốc Vương là Thiên tử. Chế độ phong kiến thị tộc phân quyền chính thức được khởi đầu. Các dòng họ người Việt cha truyền con nối cũng bắt đầu từ đó.

Ngôi vị thiên tử nhà Chu truyền được mấy đời, tới Chu Mục Vương cưỡi xe bát mã lên núi Côn Lôn tìm cung điện của Hoàng Đế và gặp được Tây Vương Mẫu. Đó là chuyện Lang Liêu cầu tiên ở núi Tam Đảo và kết duyên với nàng Lăng Thị Tiêu, thần núi ở Tây Thiên.

Nếp gấp phân phong, lễ nhạc của nước Văn Lang đã định hình văn hóa xã hội Việt, mãi đi vào chính sử nước nhà với tên Văn Lang – Âu Lạc của các vị vua Hùng, vua Thục.

Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.


Hồi IV

Khuyên bạo quân Huyền Thiên cầu Thất Diệu
Cứu nhân thế Khổng Tử soạn Thư Kinh.

Từ khi Khương Thái Công câu cá bên bến Việt Trì, Thục Phán dời đô về Cảo kinh đất Âu, Thục triều trải qua mấy trăm năm, truyền đến đời Chu U Vương. U Vương bản tính quái dị, sủng ái người đẹp Bao Tự. Để mua tiếng cười của mỹ nhân, U Vương đã cho nổi lửa Ly Sơn, kinh động các nước chư hầu anh em mà làm trò vui. Đánh mất đạo trời, không bao lâu sau Cảo kinh bị Khuyển Nhung tấn công. U Vương phải bỏ kinh thành mà chạy trốn. Hùng Tạo Vương nối ngôi buộc phải dời kinh đô về đất Lạc. Từ đó, thế vận nhà Thục đã suy, chư hầu tự nổi lên xưng hùng xưng bá thiên hạ.

Huyền Thiên Trấn Vũ vốn là một vu sư, quê ở đất Kim Bảng (Hà Nam), làm quan thủ thư của nhà Thục ở Lạc Ấp. Trước cảnh U Vương bạo ngược, lại thêm khi dời đô vùng Tam Giang gặp cảnh động đất liên tục. Thành Lạc Dương cứ xây lại đổ. Huyền Thiên nhân đó bèn lập đàn trên núi Võ Đang ở Cổ Loa, tế cầu trời đất.

Trên núi Thất Diệu, sau khi đăng đàn tế lễ, Thục An Dương Vương đã đào được các chiêng trống, xương cốt cổ, vốn là di tích của cuộc chiến Hùng – Thục dưới thời Vũ Vương và Thánh Gióng diệt Trụ. Huyền Thiên Lão Tử dựa vào đó đã bày chuyện yêu quỷ Ma Lôi, Bạch Kê là hậu duệ của Hùng Duệ Vương phá hại, nhằm mục đích khuyên răn Thục U Vương.

Huyền Thiên Lão Tử còn giảng đạo ở Lạc Dương. Trước khi ra đi, ngài đã ghi những điểm cốt yếu trong học thuyết của mình trong cuốn Đạo Đức kinh và để lại cho quan lệnh doãn Kim Quy làm báu vật thấu suốt nhân gian. Học thuyết “móng rùa” của tiên nhân Huyền Thiên truyền lại cho Thục An Dương Vương, góp phần củng cố Thục triều kéo dài thêm hơn 400 năm nữa.

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.

Nối tiếp tư tưởng Đại Đạo của Lão Tử, một triết gia khác đến từ nước Lào là tên là Trọng Ni. Ông đi bôn ba khắp các nước chư hầu để giảng về Lễ, nhưng không được trọng dụng. Cuối cùng ông quay về quê hương bên dòng sông Lam, mở trường thu nhận đệ tử, soạn kinh san định lại lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng, âm nhạc của thời Văn Lang, viết bằng chữ Khoa đẩu. Điển chế lễ nhạc từ Cao Lỗ Vương, Kinh Dịch âm dương bánh chưng bánh dày từ Lang Liêu, lịch sử Xuân Thu chép đến đời Lỗ Ai Công thì dừng bút, phong dao của những bậc tiền hiền như Chu Công, Thiệu Công cùng với lời hay ý đẹp trong dân gian đã được Khổng Tử biên chép, tuyển soạn. Nền tảng của Nho Đạo được xây dựng, đúc kết tinh hoa văn hóa Hùng Thục từ quốc tổ Hùng Vương mà truyền cho vạn thế.

Sở bang lộc mộng địa chung linh, vạn niên tiên chủ
Lỗ ấp lân thư thiên thụy biểu, thiên tải tố vương.

Hồi V

Đánh Tây Âu bắt Dịch Hu Tống
Rể Lạc Ấp diệt quốc Đông Chu.

Thiên hạ của nhà Thục khởi từ Thục chủ Âu Cơ, lập bởi Thục Phán Hùng Quốc Vương, chia đất nước làm 15 bộ, phân trăm anh em cùng bọc đồng bào ra trấn giữ trăm nơi đầu núi góc biển làm phiên dậu bình phong, quan lang thổ tù phụ đạo, phò trợ Thiên tử giữ một Thiên hạ an bình. Nước Văn Lang trải qua thời kỳ Tây Thục đô đóng ở đất Âu – Ai Lao, Đông Thục xây thành tại Lạc ấp. Huyền Thiên Lão Tử cưỡi trâu đề cao Đại Đạo. Vạn thế sư biểu Khổng Tử đúc kết Ngũ Kinh. Cửu đỉnh từ thời Kinh Dương Vương là bảo vật truyền quốc đặt ở thế miếu nhà Thục, tượng trưng cho quyền lực vô song của Thiên tử với Thiên hạ họ Hùng. 800 năm vương triều Thục truyền đến Chu Noãn Vương.

Bấy giờ gặp hội cường Tần
Tằm ăn lá Bắc toan lần cành Nam.

Tần quốc do họ Triệu thế tập, vốn là một công hầu của vua Thục được phong ở vùng Tây Bắc là đất Xuyên Thục (Tứ Xuyên). Thời Triệu Cừ Lương nhờ có biến pháp của Thương Ưởng, Tần đã trở thành quốc gia hùng mạnh nhất thời loạn các sứ quân.

Dưới thời Triệu Tứ, nước Tần bỏ tước Công mà xưng Vương. Huệ Văn Vương xua quân chiếm đất Ba Thục, tức đất gốc của Bá Thục Cơ Xương ở Quý Châu. Con của Triệu Tứ là Triệu Đảng nối ngôi cha, tự xưng là Vũ Vương, vào kinh đô Cảo của Tây Thục ở Vân Nam mà “hỏi thăm” Cửu đỉnh. Nhưng thời vận của nhà Tần chưa đến lúc, Triệu Đảng bị đỉnh rơi gãy chân, rồi chết sau mới có 4 năm tại vị.

Triệu Tắc lên tân chính thay anh trai, tiếp tục ý đồ vương nghiệp. Chiêu Tương Vương chiếm vùng đất Tây Âu của nhà Thục ở Vân Nam, bắt được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hậu Tông, tức vị vua dòng dõi cuối cùng từ Dịch Vương Lang Liêu là Chu Noãn Vương. Sử Việt gọi Chu Noãn Vương là Hùng Nghị Vương.

Nước Văn Lang còn lại phần đất phía Đông là Lạc Ấp ở Cổ Loa do Đông Chu Quân nắm giữ. Là con của Thục chủ Ai Lao (Tây Chu) nên Đông Chu Quân cũng được gọi là An Dương Vương.

Tần Chiêu Tương Vương Triệu Tắc tiếp tục lập mưu, cho cháu trai của mình là Trọng Thủy sang làm con tin ở Lạc Dương, lấy một công chúa của Đông Chu An Dương Vương là Mỵ Châu. Trọng Thủy sau đó về nước kế vị, là Tần Trang Tương Vương. Nhờ thông thạo đất Âu Lạc từ khi còn ở rể tại Lạc Ấp, Trang Tương Vương tiến quân chiếm nốt đất Đông Chu, đuổi Đông Chu Quân chạy ra biển, cầm sừng văn tê bảy tấc đi gặp thần Kim Quy bên bờ Đông Hải. Quý tộc của nhà Thục được Trang Tương Vương cho an trí ở thành Châu Sa, nay thuộc Quảng Ngãi.

Nhà Thục từ Âu Cơ – Thục Phán kết thúc. Nhưng vì dòng họ Triệu Tần vốn cũng là con cháu công hầu của nhà Thục, lại bắt đầu từ phía Tây, từ đất Xuyên Thục (Tứ Xuyên), chiếm Ba Thục (Quý Châu) rồi Tây Âu (Vân Nam) và Lạc Dương (Lạc Việt) nên Tần Vương cũng đã được gọi là Thục An Dương Vương. Tới khi đứa con của 2 dòng Thục giữa Trọng Thủy và Mỵ Châu là Triệu Chính lên ngôi, dẹp loạn các sứ quân, chấm dứt cục diện 9 chúa tranh vua, xưng là Tần Thủy Hoàng Đế, dời kinh đô về giữa đất 2 nhà Thục. Thiên hạ họ Hùng bước sang thời kỳ quốc gia thống nhất, lập chế độ quận huyện, quân chủ tập quyền.

Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà tự cố cung.