Trời ơi là trời…
Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, chép “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương…”
Chữ “Triệu” chỉ “Triệu Vũ Đế, như thế đã minh thị .. nhà Triệu là triều vua người Việt .
Tư liệu lịch sử khác đang lưu truyền :
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn (1228 – 1300) ốm nặng, vua Trần Anh Tông từ Thăng Long về thăm và hỏi rằng: Nếu chẳng may ngài mất đi, giặc phương Bắc lại sang lấn cướp thì kế sách giữ nước như thế nào. Hưng Đạo Vương nói rằng: “Ngày xưa Triệu Vũ Đế dựng nước, vua Hán cho quân đánh thì nhân dân làm kế thanh dã (kế vườn không nhà trống – chú thích của Vũ Bình Lục) rồi đem đại quân từ Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, dùng đoản binh đánh úp đằng sau, đó là một thời”. Như thế rất rõ ràng Hưng Đạo Đại Vương đã thừa nhận Triệu Vũ Đế (Triệu Đà) là ông vua tài lược của nước ta .
Nhưng sao lại có dòng ̀:
Triệu vũ đế nước Nam Việt là tướng nhà Tần ; Triệu Đà người Bắc quốc sang xâm lược Âu Lạc, chiếm đất gộp thành nước Nam Việt, không thể coi là chính thống của nước Việt.
Thế là sao ?Thực không hiểu nổi .
Lịch với sử , kì với cục… qua nhà Triệu tới nhà Tiền Lí ‘…
Năm Giáp-tí (544) đời nhà Lương bên Tàu, ông Lý Bôn tự xưng là Nam-việt đế , đặt quốc-hiệu là Vạn-xuân , niên-hiệu là Thiên-đức , rồi phong cho Triệu Túc làm thái-phó, Tinh Thiều làm tướng văn, và Phạm Tu làm tướng võ.
Sử viết như thế thì không nghi ngờ gì nữa rõ ràng Lí Bôn là vua ‘Ta’
Nhưng…
Về Lý Nam Đế, sử gia Trần Trọng Kim viết: “Lý Bôn, có người gọi là Lý Bí, vốn dòng dõi người Tàu. Tổ tiên ở đời Tây Hán phải tránh loạn chạy sang Giao Châu,
Vậy Lí Bôn Lí Nam đế sau là Lí Phật tử hậu Lí Nam đế là vua Tàu hay vua Ta ?
Lại thêm 1 ông Tàu cực lớn nữa :
Về dòng dõi nhà Trần, Đại Việt Sử Toàn Thư viết về vua Trần Thái Tông như sau: “trước kia tổ tiên vua là người đất Mân, (có ngườì nói là Quế Lâm), có người tên là Kinh, đến ở hương Tức Mặc phủ Thiên Tường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá. Vua con của Thừa, mẹ họ Lê … (ĐVSKTT tr 159)
Không biết có liên hệ máu mủ gì hay chỉ thuần là ngưỡng mộ tài đức mà
Các Thái thượng hoàng nhà Trần đều gắn với danh hiệu đế Đường Nghiêu Là vị vua huyền thoại của Trung Quốc, một trong “Ngũ Đế” thời cổ đại, nổi tiếng với phẩm hạnh đức độ và sự sáng suốt.
Trần Thái Tông: Hiển Nghiêu Thánh Thọ Thái Thượng Hoàng Đế.
Trần Thánh Tông: Quang Nghiêu Từ Hiếu Thái Thượng Hoàng Đế.
Trần Nhân Tông: Hiến Nghiêu Quang Thánh Thái Thượng Hoàng Đế.
Trần Anh Tông: Quang Nghiêu Duệ Vũ Thái Thượng Hoàng Đế.
Trần Minh Tông: Chương Nghiêu Văn Triết Thái Thượng Hoàng Đế.
Tiếp sau nhà Trần là nhà Hồ cũng không thoát .
Về Hồ Quí Ly, Đại Việt Sử Ký toàn Thư viết: “Quý Ly, tự là Lý Nguyên, tổ tiên là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang , đời Hậu Hán, thời Ngũ Quí sang làm thái thú Diễn Châu.” (ĐVSKTT tr 293).
Sau khi lật đổ nhà Trần Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi quốc hiệu từ Đại Việt thành Đại Ngu và chuyển kinh đô về Thanh Hóa. vì cho rằng dòng họ mình là con cháu của Ngu Thuấn (một vị vua hiền đời cổ Trung Hoa), nên đặt quốc hiệu Đại Ngu để khẳng định sự thịnh vượng.
Vể quốc hiệu đại Ngu thì “Đại” là to lớn, “Ngu” (虞 – không phải ngu si 愚) nghĩa là yên vui, hòa bình.
Đến nhà Lí … sách Tàu …
Mộng Khê bút đàm của Thẩm Quát (1031 – 1095) (…) được viết trong khoảng 1086 – 1093[chép]: “Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu của đời Hán đời Đường. Ngũ Đại , …An Nam đại loạn, lâu không có ai là tù trưởng. Quốc nhân sau đó cùng lập người đất Mân là Lí Công Uẩn làm chúa.
Năm thứ bảy niên hiệu Thiên Thánh, Công Uẩn chết, con là Đức Chính lên thay. Năm thứ 6 niên hiệu Gia Hựu, Đức Chính chết, con là Nhật Tôn lên thay. Từ khi Công Uẩn chiếm An Nam, mới có lo lắng về chốn biên cương, hắn nhiều lần đưa quân vào cướp. Đến đời Nhật Tôn, còn tiếm xưng là “Pháp Thiên Thuận Ứng Sùng Nhân Chí Đạo Khánh Thành Long Tường Anh Vũ Duệ Văn Tôn Đức Thánh Thần Hoàng Đế”, tôn Công Uẩn làm Thái Tổ Thánh Vũ Hoàng Đế, quốc hiệu Đại Việt. Hi Ninh nguyên niên, cải nguyên bậy thành Bảo Tượng; năm sau lại cải thành Thần Vũ. Nhật Tôn chết, con là Càn Đức lên thay, để hoạn quan Lí Thượng Cát và mẹ Lê thị, hiệu là: Yến Loan thái phi cùng coi việc nước”.
Gốc gác các vua nhà Lí là người đất Mân bên Tàu …thì còn gì là sử nước ta ?
Sau nhà Lí Anh Hùng đất Việt rất gần ngày nay : Hồ Thơm – Nguyễn Huệ – Quang Trung lừng danh có lập trường kháng Bắc phương rõ rệt …
“Lời hiếu dụ tướng sỹ” được vua Quang Trung đọc tại lễ lên ngôi:
Đánh cho để dài tóc
Đánh cho để đen răng
Đánh cho nó chích luân bất phản
Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”
Nhưng khi xem xét lí lịch thì té ngửa …Tây sơn Tam kiệt có cùng ông tổ với Hồ Qúi Li .
Họ Hồ là họ lâu đời ở xứ Nghệ. Kể từ Trạng nguyên Hồ Hưng Dật lập nghiệp ở hương Bào Đột (thuộc xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) đến nay đã trên 1.000 năm (…). Hồ Hưng Dật người Triết Giang. Triết Giang xưa là nước Ngô Việt của Thái Bá thời Chiến quốc
Xem ra tìm vua Việt chính gốc khó y như hướng lên trời tìm sao vậy.
Kinh hoàng hơn nữa .
Những thông tin giật gân trên chưa nhằm nhò gì với thông tin …nhà Nguyễn lâp Văn miếu và Võ miếu nhất là Miếu Lịch đại đế vương ở Kinh thành Huế thờ nhiều vua và văn thần võ tướng người Hán :
Trong Miếu lịch đợi bố trí các gian thờ :
1.Gian giữa thờ Phục Hy tại chính trung. Vị tả nhất (vị trí bên trái kề chính trung) thờ Thần Nông. Vị hữu nhất (vị trí bên phải kề chính trung) thờ Hoàng Đế. Vị tả nhị thờ Đường Nghiêu. Vị hữu nhị thờ Ngu Thuấn. Vị tả tam thờ Hạ Võ. Vị hữu tam thờ Thương Thang. Vị tả tứ thờ Chu Văn. Vị hữu tứ thờ Chu Võ.
2.2. Gian tả nhất (gian bên trái kề chính gian) thờ các vị vua khai sáng nuớc Việt: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương, Sĩ Vương, Đinh Tiên Hoàng.
3.3. Gian hữu nhất (gian bên phải kề chính gian) thờ vua Lê Đại Hành và 3 vị vua triều Lý là Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Nhân Tông.
4.4. Gian tả nhị thờ 3 vị vua triều Trần là Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông.
5.5. Gian hữu nhị thờ 4 vị vua triều Lê là Lê Thái Tổ, Lê Thánh Tông, Lê Trang Tông, Lê Anh Tông.
Ngoài ra đôi nhà Tả Vu và Hữu Vu thờ các vị tướng Trung Hoa lẫn Viện Nam.
Tả Vu thờ 6 danh tướng Trung Hoa là Phong Hậu, Cao Dao, Long Bá Ích, Phó Duyệt, Thái Công Vọng, Thiệu Mục Công Hồ; 8 danh tướng Việt Nam là Nguyễn Bặc, Lê Phụng Hiểu, Tô Hiến Thành, Trần Nhật Duật, Trương Hán Siêu, Nguyễn Xí, Lê Niệm, Hoàng Đình Ái.
Hữu Vu thờ 8 danh tướng Trung Hoa là Lực Mục, Hậu Quỳ, Bá Di, Y Doãn, Chu Công Đán, Triệu Công Thích, Phương Thúc, Hồng Hiến; 7 danh tướng Việt Nam là Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Đinh Liệt, Lê Khôi, Trịnh Duy Thoan, Phùng Khắc Khoan.
đến cùng tột ….Không phải chỉ với các triều đại non trẻ mà xét tới gốc tổ thời lập quốc .
An Dương vương không phải người Văn Lang, ông ta từ xứ khác đem quân sang chiếm nước Văn Lang, lập nên nước Âu Lạc. Thế thì An Dương vương và Triệu Đà, cùng có gốc gác bên ngoài (thậm chí cùng là người Bắc quốc), đều chiếm nước và đổi quốc hiệu (Văn Lang – Âu Lạc; Âu Lạc – Nam Việt),
Người Việt ơi còn gì để nói ???
Xin cứ bình tĩnh đọc bài : 2 giống Hán 2 Hán quốc cùng trong Blog này .
Thở phào nhẹ nhõm thế nào thì thế chỉ cần 1 Hưng đế Lí Bôn xuyên suốt dòng sử Việt thì … ta vẫn là ta .








