
Nguyên khí …Cực kì qúi…Cất thặt kĩ
Hung Nô là các bộ lạc du cư ở khu vực Trung Á, nói chung sinh sống ở khu vực thuộc Mông Cổ ngày nay. Từ thế kỷ III TCN họ đã kiểm soát một đế chế rộng lớn trên thảo nguyên, kéo dài phía tây tới vực Kavkaz (Caucasus). Các hoạt động của họ diễn ra chủ yếu tại các khu vực thuộc miền nam Siberi, miền tây Mãn Châu và các tỉnh, khu tự trị ngày nay của Trung Quốc là Nội Mông Cổ, Cam Túc và Tân
Năm 215 TCN, khi quân đội nhà Tần do Mông Điềm chỉ huy đã xua đuổi họ ra khỏi các đồng cỏ bên sông Hoàng Hà. Hung Nô đã liên kết lại với nhau thành một liên minh hùng mạnh .
Thiền vu Hung Nô nắm giữ quyền lực tuyệt đối về quân sự, chính trị và tôn giáo, đứng đầu hệ thống bộ lạc du mục tức tương đương địa vị hoàng đế trong hệ văn minh Thiên hạ , Tước hiệu này được sử dụng trong khoảng 8 thế kỷ, từ thời nhà Chu của Thiên hạ cho đến khi bị thay thế bởi tước hiệu “Khả hãn” vào năm 402 sau Công nguyên.
Năm 209 TCN, tức là chỉ khoảng 3 năm trước khi triều Hưng của ông Lí Bôn – Lưu Bang ra đời ,một liên minh hùng mạnh dưới quyền của một thiền vu Mặc Đốn được thành lập,
. Sự thống nhất về mặt chính trị của người Hung Nô đã làm cho họ trở thành một địch thủ đáng gờm của Thiên hạ , do họ có khả năng tập trung các lực lượng quân sự lớn và thực hiện tốt hơn việc phối hợp chiến lược.họ đã nhiều phen gieo rắc kinh hoàng cho người họ Hùng .
Giải pháp hòa bình cuối cùng đã đạt được giữa hai bên, bao gồm việc các công chúa nhà Hán sẽ lấy các thiền vu gọi là hòa thân ; Thiên tử phải biếu các món quà tặng theo chu kỳ cho người Hung Nô, bao gồm tơ lụa, rượu và gạo; về ý thức chính trị hai quốc gia có địa vị bình đẳng .Vạn Lý Trường Thành là biên giới chung.
Thiền vu nghe cứ như là 1 từ của ‘rợ ngữ’ thực ra đấy là tiếng Việt lộn ngược : thiền vu nói lái là thù viên chỉ vua chúa đối địch xứng tầm và dai dẳng , từ viên chỉ là biến âm của vương tương tự như trong Hùng Vương – Hiên viên , Tuấn vương thành ra Tản viên vậy .
Thiền vu đứng đầu các thiền vu Hung nô tên là Đầu Man ; Đầu man thực ra là tiếng Việt trần trụi , đầu chỉ kẻ đ̣ứng đầu trước tiên nghĩa chữ khỏi phải bàn còǹ Man là man – rợ biến âm của Mun màu Đen (như mèo ‘mun’ qụa ‘ô’ vậy) .
Thiền vu tổ Đầu Man bị chính con ruột là thiền vu hung nô lừng danh Mao Dun hay Mạo đốn giết chết và cướp ngôi {đúng là kiểu …Mun- Man ) .
Mao Dun theo phép phiên thiết là Mun – Man , mạo đốn thiết Mốn – mán nghĩa Việt ngữ là chúa thù địch man rợ chứ nào phải tên tuổi gì .
Cùng kiểu này trong sử Tàu Vua Liêu tộc Khiết đan họ là Gia luật cứ ngỡ là tiếng man tiếng mọi gì nào ngờ lại là… tiếng Việt , qua phép phiên thiết gia luật là Giặc , vua chúa Liêu – khiết đan là ‘giặc’ .
Sau Thiền vu là thời của các Hãn , hãn biến đổi thành Hán danh xưng của Hań tộc tây phương kí âm là Khan .
Khan thiết âm là Khả hãn là Khiết đan – khất đan -khế đan hay Khi tan .
Tộc Liêu đứng chân trên vùng Sơn tây – Hà Bắc đất tổ của Hán tộc từ thời Đông Hán do Hán Quan Vũ Lưu Tú hay Lu túi kiến lập , Thực đơn giản và chính xác với người Thiên hạ thì Hán là Hãn Giặc Hung nô đích thị . Lầm lẫn thời gian dài là do các sử gia Trung quốc khéo bịp …mập mờ đánh lận con Đen .
Không chỉ họ Liêu – Khiết đan – da luật nhiều họ rợ khác cũng đã tự bộc lộ bộ mặt thật .
Người Tiên Ti lập nên các triều đại ở miền bắc Trung Quốc như Tiền Yên, Hậu Yên, Tây Yên và Nam Yên với các vua mang họ Mộ Dung lạ hoắc .
Thực ra tương tự như trường hợp ho Gia luật thiết giặc họ Mộ dung thiết âm là Mông , mông ở đây chỉ̀ người Mông Thát tức cùng̀ giống với Mông cổ của Thành cát tư hãn chứ Mông đâu có phải hoa hiếc gì .
Sau vụ Mộ dung thiết Mông sai lầm tồn tại dài ngày trong sử Hán là việc tên của chúa Mồng cổ là Thành cát tư hãn thực ra hãn là chúa Hung nô đ̣ã rõ còn thành cát không phải là tên của ai mà thành cát thiết Thát 1 tộc người cũng gọi là Mông Thát tưć Mông cổ ., hiểu đ̣ầy đủ thì cụm từ Thành cát tư hãn nghĩa là chúa Mông thát ông ta còn tên khác là Thiết mộc chân , thiết là biến âm của Thát , mộc chân thiết âm là Mân – Man , ̀ Thiết mộc chân là Thát man bọn rợ Thát kém phát triển thế thôi .
Sau Mông Thát , Hán tộc có họ Họ Hoàn Nhan bắt nguồn từ tộc Nữ Chân vùng lưu vực sông Hắc Long Giang.
Năm 1115, tù trưởng Hoàn Nhan A Cốt Đả thành lập nhà Kim, Kim quốc đã đánh bại nhà Liêu và nhà Bắc Tống, thống trị phần lớn miền bắc Trung Quốc. Các hoàng đế nổi tiếng họ Hoàn Nhan là A Cốt Đả, Hoàn Nhan Lượng (Hải Lăng Vương), và Kim Thái Tông (Hoàn Nhan Ngô Khất),
Lại 1 lầm lẫn rối rắm nữa trong Hán sử , làm gì có họ nào là Hoàng nhan , chính xác hoàn nhan thiết Han – hãn tức chúa của Hung nô , Hoàn Nhaǹ A Cốt Đả,là hãn tưć chúa Hung nô A Cốt Đả,
Suốt qúa trình vài ngàn năm lịch sử Hán quốc có 1 sự việc vô cùng quan trọng mà người Tàu đang cố ý phớt lờ làm lơ không nói tới .
Thị tộc Thác Bạt lập ra triều đại .Bắc Ngụy thống nhất miền bắc Trung Quốc chấm dứt thời kỳ chiến tranh hỗn loạn của Ngũ Hồ Thập Lục Quốc.
Dưới thời Hiếu Văn Đế (Thác Bạt Hoành), Bắc Ngụy tiến hành cải cách mạnh mẽ , yêu cầu người Thác Bạt mặc trang phục Hưng tộc , dùng Hưng ngữ và chữ Nho , bỏ họ Thác Bạt và đổi sang họ đơn là Nguyên , đồng thời khuyến khích kết hôn với người bản địa để hòa nhập văn hóa.
Thác Bạt thiết Thát cùng tộc với Mông cổ là Hung nô chính dòng họ đã bỏ văn hóa Hán mà Hưng hóa tức tiến trình văn minh Trung quốc lộn ngược so với mọi người đang lầm .
Chính xác ra căn cốt văn hóa Trung quốc vẫn là nền văn hóa của người họ Hùng , nền văn minh đó chỉ tạm gián đọan thời gian ngắn rồi lại phục hưng rực rỡ hơn , moị phủ lấp về sau của sự đồng hóa theo văn hóa Hung nô của 2 triều Nguyên và Thanh chỉ là lớp vỏ mỏng bề ngoài không đáng kể .
xin mọi người tỉnh ra xem xét lại :
Về mắt chúnh trị Nguyên và Thanh là 2 triều đại Hung nô mà lại được coi triều đại chính thống của Trung quốc , thế thì người Trung quốc ngày nay là ai , là hậu duệ cùa giống dòng nào ???
Rút ra từ bài nghiên cứu lịch sử Việt Nam của Thiền sư Lê Mạnh Thát đăng trên mạng internet :
.... đối chiếu với một dị bản bằng tiếng Phạn và tất cả những gì được ghi trong Sử Ký của Tư Mã Thiên và các tài liệu cổ sử khác của Trung Quốc, Thiền sư Lê Mạnh Thát khẳng định truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, Ông cũng tiếp tục đối chiếu sử sách và khẳng định không những không có chuyện Triệu Đà đánh An Dương Vương (vì làm gì có An Dương Vương mà đánh!) mà nước ta cũng không bao giờ bị Triệu Đà chiếm. Nước Nam Việt của Triệu Đà chưa bao giờ bao hàm nước ta trong đó cả. Có nghĩa là, cho đến năm 43 (sau dương lịch), trước khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng thất bại, nước ta vẫn là một nước độc lập. Đó là triều đại Hùng Vương, là nhà nước Hùng Vương. Nhà nước đó đã được xây dựng trên một nền văn hiến với điển chương riêng của nó, có luật pháp, có chữ viết, có lịch số, có âm nhạc, có văn học...’.
Đối chiếu luận điểm lịch sử trên của Thiền sư Lê Mạnh Thát với sử thuyết Hùng Việt thấy :
Nhìn hiện tượng diễn ra bề ngoài thì thấy có phần trùng hợp :
- Không có chuyện Thục vương chiếm ngôi và thay thế Triều Hùng .
- Không có chuyện Triệu Đà đánh An Dpương Vương
- Cho đến năm 43 (sau dương lịch), nước ta vẫn là một nước độc lập .
Nhưng khi xét về bản chất sự việc thì thấy hoàn toàn khác .
Theo Nhà sư thì truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, sự việc giống như câu chuyện về trận đánh quyết định trong anh hùng ca Mahàbhàrata giữa hai anh em Pandu và Duryodhana trong Lục độ tập kinh được Sử gia Ngô sỹ Liên cóp nhặt rồi nhét vào cổ sử Việt vậy .
Với Sử thuyết Hùng Việt thì không có chuyện Thục vương thay thế Hùng vương như ý kiến của Thiền sư nhưng An dương vương là nhân vật lịch sử có thật ..., sao lại có việc kì cục vậy ? Sử thuyết Hùng Việt đã trả lời rõ ràng An dương vương là đời Hùng vương thứ 12 Hùng Chiêu vương Quốc Tiên lang trong 18 đời Hùng vương , Thục vương chỉ là Chúa nước Thục Không phải là Thiên tử của 1 triều đại trong lịch sử Hữu Hùng quốc tức Thiên hạ .
Hùng Chiêu vương chính là vua tổ của triêu Châu Trung hoa . Chiêu và Châu chỉ là biến âm của nhau mà thôi . Triều đại này thực ra do Châu Vũ vương kiến lập và ông Cơ xương được con là Vũ vương tôn là Văn vương hay Văn lang (Lang đồng nghĩa với vương) ông tổ của triều đại mới kiến lập .
Việc Triệu Đà là vua Nam Việt cha Trọng Thủy đánh bại và cướp nước của An Dương vương cũng hoàn toàn không có , Sử thuyết Hùng Việt chỉ ra :Triệu Đà đánh An dương vương trong truyền thuyết tráo nỏ thần là Tần Hiếu Văn vương Doanh Trụ cha của Tử Sở ông nội Triệu Chính – Tần Thủy Hoàng . Trong câu Truyện Tử Sở được biến thành Trọng Thủy , sở-sủ và thủy là 1 từ .
Sự kiện triệu Đà chiếm nước ‘ta’ năm 256-257 trước CN chính là phiên bản tráo đổi của việc nhà Tần chiếm thiên hạ của họ Cơ nhà Châu .
Luận điểm lịch sử của nhà Sư Lê Mạnh Thát ...
...cho đến năm 43 (sau dương lịch), trước khi cuộc chiến tranh vệ quốc của Hai Bà Trưng thất bại, nước ta vẫn là một nước độc lập.
Trước cuộc xâm lăng của Phục Ba tướng quân Mã Viện hay Mã Diện năm 43 nước ta vẫn là một nước độc lập thì 2 dòng ý kiến trùng khớp nhưng khác nhau ở điểm :Sử thuyết Hùng Việt cho là nếu năm 42-43 Giao chỉ còn là đất của người Việt thì không thể có cuộc nổi dậy của chị em bà Trưng vì nổi dậy chống ai không lẽ chống ...vua Hùng ??, Năm 42-43 của Mã Viện là cuộc tấn công xâm lăng lần thứ 1 đánh nước ta do 1 nhân vật lịch sử khác cai quản .
Sử thuyết Hùng Việt cho 2 cuộc khởi nghĩa bà Trưng và bà Triệu trong sử Việt chỉ là 1 và chính là cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng trong sử Trung Hoa , Cả 2 bà Trưng và bà Triệu chĩ đánh 1 kẻ thù là quân Đông Hán của Quang vũ ̣đế không phải như sử đang lưu hành cho….bà Trưng đánh quân Tây Hán còn bà Triệu cùng anh là Triệu quốc đạt khởi nghĩa đánh quân Đông Ngô .
Quân đông Hán đã phải dừng lại chôn cột đồng đánh dấu ranh giới cực Nam của Đông Hán là Khâm châu nay thuộc Lưỡng Quảng tức lần này nhà Hán không hề chiếm được Giao chỉ .
Mẹ
Theo sử hiện hành Lưu Khiêm hay Lưu Tri Khiêm (? - 894), được nước Nam Hán truy tôn là Thánh Vũ hoàng đế và miếu hiệu Đại Tổ , .
Do có nhiều công trạng , Lưu Khiêm được nhà Đường bổ nhiệm làm Phong châu thứ sử, châu này nay là Triệu Khánh, Quảng Đông. 
Làm ăn 2 tiếng phải đi đôi
Sao mình lại muốn chỉ ăn thôi
Không làm hỏì lấy cái chi ăn
Bỏ ăn thì lấy sửc đâu làm
Ham tiền hám bạc làm gì vậy
Làm sao đầy nổi cái bụng tham
Thực ra ngày chỉ cần 2 bữa
No rồi lăn ngủ thế là song
Sang hèn nào có khác chi nhau
Cuối đường đi Ông bà chờ sẵn
Ai rồi cũng phải đến đó́ thôi
Số không tròn trĩnh lại vể không.
Nhờ vợ chồng xiêng làm mà nhịn xài nên khi tuổi bước vào hàng 6 cũng có phần dư giả , cuộc sống dễ chịu ; con cái lớn cả rồi đứa nà̀o có phần đứa nấy , phần mình giờ muốǹ ăn là ăn muốn ngủ là ngủ chẳng phải đắn đo gì , ăn bằng miệng không nổi nữa thì bù bằng mắt….,kể ra … Nam Bắc Á Âu Mĩ Phi Úc khắp nơi khắp chốn đã qua nhiều nơi rồi, tuổi dù lớn nhưng vẫn trèo đèo lội suối chẳng thua ai , ở nhà thì chỉ trừ lúc ăn và ngủ còn do cái nghiệp Quản thủ thư viện trót mang ̀ không lúc nào rời sách và mạng , thường xuyên bắt kể ngày đêm ngụp lặn trong biển thông tin Lịch sử và văn hóa văn minh nhân loại ; hết Tây lại sang Đông đặc biệt do ‘tức khi’́ mà…soi hơi kỹ về quá khứ đám con nhà Giời ơi … .
Đang yên đang lành thì thảm hoạ Covid 19 quét qua địa cầu đến lão già nhỏ bé như mình mà nó chẳng tha , mình nói đùa là tuổi 70 bị ‘cô 19 vật’ …thua nhưng không tiêu …., dù thắng trận vẫn giữ được mạng nhưng cũng phải mang 2 vệt sơ ở phổi , vì cái nợ này mà phải cấy vi trùng tầm soát Lao… kết quả thê thảm sau 6 tuần chờ là tin không ngờ … do sức đề kháng suy yếu nên đã nhiễm lao phổi . 
Kết quả Phân tích DNA người Trung quốc ngày nay chỉ ra ;
Người Hán: Chiếm đa số có sự phân hóa di truyền rõ rệt giữa hai miền Nam – Bắc. Nhìn chung, từ quê gốc khởi thủy người miền Nam mang gen thừa hưởng nhiều đặc điểm từ các nhóm cư dân cổ đại Đông Nam Á, trong khi người miền Bắc có mối liên hệ gần gũi hơn với người Mông Cổ và Siberia.
Vậy đâu mới là con cháu Tam hoàng ngũ Đế chính hiệu ,Dân gian Việt có câu tục ngữ … lập lờ hay mập mờ đánh lận con Đen là nói về cái mớ rối rắm này .
Đơn giản dễ phân biệt nhất là Lấy Hoàng hà làm chuẩn thì người Bắc Hoàng hà là người Hán gốc hãn Hung nô con cháu các Thiền vu và từ bờ Nam trở xuống là Hưng tộc ́ gốc Hữu Hùng quốc con cháu Tam Hoàng Ngũ đế .
Vào khoảng đầu công nguyên Đám Lục lâm thảo khấu tức đám cướp Lục lâm đắc thời nổi loạn tấn công triều đình nhà Tân và cướp được kinh đô của vua Vương Mãng , vua sau cùng họ Hùng tôn 2 tướng cướp tư liệu gọi là Hãn Canh Thuỷ và Hãn Quang vũ làm vua kiến lập 2 nước Hán trên vung̀ đất Bắc Hoàng Hà nay là Sơn Tây Hà Bắc .
Vì cả 2 ông vua Hán vốn là tướng cướp ; ông trước là Lưu Huyền va ông sau là Lưu Tú , Huyền là đen thì rõ cả chữ lẫn nghĩa , còn Lưu Tú đọc lái đi là : Lu Túi tức lu tối đó chính là 2 con Đen trong tục ngữ , nhưng hỏi sao lại là ….đánh lận ăn gian ?… thưa vì 2 hoàng đế khả kính vốn là tướng cướp Lục lâm của nhà Đông Hán vốn dòng dõi Hung nô không hề tiếp nối dòng sử chính thống Trung hoa truyền từ ̀ triều Tây Hán của vua Lí Bôn – Lưu Bang con cháu Tam hoàng Ngũ đế .
Sử thuyết Hùng Việt phân biệt người Hoa Bắc tức giống sống ở phía Bắc Thiên hạ ngày nay vốn họ gọi chúa của mình là Khan … tiếng Hán độc âm hóa thành Hãn , nước của Hãn gọi là Hãn quốc , quân là Hãn quân , sau họ đổi danh từ chung Hãn đồng nghĩa với vương thành ra Hán tên riêng của đám con Đen đánh lận ; hãn quốc thành Hán quốc , con cháu các hãn thành ra người Hán , Hán tộc , văn minh ngày sau .
Người vùng Sơn Tây – Hà bắc nơl lập quốc của Hán Quang vũ đế sau công khai tự xưng là Liêu cũng là Khiết đan , phép phiên thiết cho Khan thiết Khiết đan chỉ rõ , người Hán và rợ Khiết đan chỉ là …1 dòng .
Do vùng trời cư trú là Huyền thiên nên Người Hoa Bắc còn tên khác là Bách Man , bách là các hay những , Man chính xác là Mun từ Nôm nghĩa là màu Đen cụ thể là các nước Mông Minh – Mãn . Lu – Liêu , Kim – Căm hết thảy nghĩa là …mờ tối . ,giống bách Man là đối phản với Bách Việt ở Viêm thiên trong Cửu Thiên ; viêm nhiệt thiết Việt thì Thiên hạ đã rõ…Đen – Hồng.
Khi nói người Hán Hoa Nam là sai hoàn toàn , người phía Nam Thiên hạ thuộc dòng dõi Hưng đế Lí Bôn , Hưng đế Lí Bôn trong Hùng phả là Hùng Trịnh vương Hưng đức lang , Hưng đức là Hưng đế . theo sử ngày nay Sau khi nhà Tần sụp đổ Thì Thiên hạ chia đôi cho 2 vương , Hán vương và Sở vương , sau Hán vương đánh bại Sở vương thống nhất Thiên hạ từ đó có nước Hán người Hán ,
Lịch sử đã sai ;Hán và Sở chẳng nói lên ý nghĩa gì thời Thiên hạ chia đôi này .
Sử thuyết Hùng Việ̣t cho cặp từ Hán – Sở thực ra là Hên – Sui . Hơn – thua hay Hưng – Suy lối tư duy Lưỡng nghỉ của ngôn ngữ dựa trên Dịch lí .
Lí Bôn thấng trận chiến nên gọi là Hên – Hơn- Hưng vương , Hạng Tịch thua thà Sui- Thua- Suy vương .
Lí Bôn định đô ở Đại Hưng thành sau cũng gọi là Trường An , chính Hưng vương ,Hưng thành đã xác nhận cho sự hiện hữu của Hưng tộc , Hưng quốc , Hưng nhân ở Nam Thiên hạ tức vùng xưa nay vẫn lầm lẫn gọi là Hoa Nam của Hán tộc . .
Có 1 chi tiết cực kì quan trong là vấn đề …chữ Hán , phải nói cho rõ chữ Hán mà người Việt gọi là chữ Nho không phải là Hán tự chữ viết của người Hán -Hãn tộc Bắc Hoàng hà .
Sách sử Trung Quốc còn để lại nhiều ấn tích tiếng Việt như các vua tổ Trung Quốc viết theo Hán thức là Hoàng đế, Hiên Viên đế. còn lại nhiều vua lại theo Việt thức như Đế Chúc Dung, Đế Khốc, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, Đế Vũ, Đế Khải, Đế Thái Khang.
Từ Hán gốc Việt cũng vô số trong sách Sử con nhà Giời …vàng ra vương vua biến ra vũ , chúa biến ra chiếu – triệu đặc biệt rõ gốc Vịệ̣t hơn hết là ngũ tước căn cơ của nền văn minh Trung quốc gốc là dảy số ̣đếm Việt …không hai ba tư năm biến thành công hầu bá tử nam . Tại sao cổ sử Tàu lại gọi là ‘thần Nông’ không phải ‘Nông thần’ đúng cú pháp Hán ngữ , thần y trật lất …mà không phải là y thần …
Có nhà nghiên cứu đưa ra con số cụ thể …đất nước Trung Hoa gồm có 22 tỉnh,nhưng chỉ có 8 tỉnh được gọi tên theo cú pháp Trung Hoa là:Cam Túc,Hắc Long Giang,Phúc Kiến, An Huy,Thanh Hải,Cát Lâm,Chiết Giang,Quý Châu còn lại 13 tỉnh chiếm đa số lại được đặt tên theo cú pháp Việt:Hà Bắc,Hà Nam,Hồ Bắc,Hồ Nam,Sơn Đông,Sơn Tây,Thiểm Tây ,Vân Nam,Quảng Đông,Giang Tây ,Giang Tô,Hải Nam,Liêu Ninh,không riêng 13 tỉnh này mà còn có cả thành phố
Vậy chữ Hán là thứ chữ viết của ai ?.
Thành công của 300 quan Bác sĩ mà ông cháu Khang Hy – Càn Long thuê cạo sửa tư liệu sách vở Trung hoa ròng rã 10 năm trời Còn để lại nhiều lắm nhiều lắm những chuyện không hiểu nổi .
Nếu người Việt không có chữ viết mà phải mượn chữ của người Hán để dùng thì không thể nào có được nền văn hiến 4000 năm như hằng tự hào .
Thông tin mới từ giới nghiên cứu …:
Chữ xẻng đá lớn hay chữ Lạc Việt cách nay 4.000 đến 6.000 năm vừa tìm thấy ́ có liên quan nguồn cội với Giáp cốt văn . Sự khám phá Chữ Lạc Việt có trước Giáp cốt văn hơn 1.000 năm và 2 loại chữ có liên quan nguồn cội tức mối liên hệ ‘tiền nhân và hậu bối’ cộng với thành tựu mới nhất của di truyền học đã khai tử dòng sử Trung quốc mập mờ đánh lận con Đen đang lưu hành …luận điểm cái nôi của dân tộc Trung hoa là vùng Sơn tây – Hà bắc bên bờ bắc Hoàng hà , tới đời Thương 1700-1100 trước công nguyên mới vượt…Hà truyền bá văn minh Hán tới vùng sông Hoài , thời Xuân thu chiến quốc mới qua bờ Trường giang xuống phía nam đem ánh sáng văn minh tới cho người Bách Việt và phải đến thời đế quốc Tần gần đầu công nguyên mới chạm đến Quảng Tây – Lạc Việt , cứ theo họ Thông tin sách sử Trung quốc còn ghi chép …rõ???̃ lời tấu của Man di đại trưởng lão (Triệu Đà) ….đất Tây Âu Lạc còn trần truồng …nay với sự tìm thấy chữ Lạc Việt 4.000 – 6.000 năm tuổi ở Quảng tây đất Âu của Âu – Lạc xưa thì sử Tàu giả hóa thành dòng sử lộn ngược ‘đầu cắm xuống đất mông chổng lên trời’ , hèn chi mà trong dân gian Việt lưu truyền câu : sinh con rồi mới sinh cha , sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông tưởng là vớ vẩn nào ngờ lại là lời nhắn của người Việt xưa nhằm lột mặt nạ kẻ siêu lừa , bịp cả địa cầu … .
Moị chuyện đã rõ như ban ngày : ̃ta là ta giặc là giặc ; Hưng là Hưng Hãn là Hãn không thể trộn lẫn̉ lừa bịp mãi được .
Đã có bằng chứng rõ ràng …mời các bạn xem lại loạt bài :
Lãnh thổ Hùng Việt – phần 1.
Lãnh thổ Hùng Việt – phần 2.
Lãnh thổ Hùng Việt – phần 3.
Lãnh thổ Hùng Việt – phần 4 .
Đem liên kết thông tin chứa trong bài với thành tựu Khảo cổ học xưa nay để nhận biết chính xác rõ ràng về dân tộc – đất nước và nền văn minh của dòng giống mình mà ngẩng cao đầu sống hiên ngang dưới ánh mặt trời .