Đọc sử Việt và Hoa thấy có điều khá lạ ;
Dòng sử Việt thì chép Hùng vương là quốc tổ , không phải 1 mà có tới 18 Hùng vương ;…không lẽ nước ta có tới 18 quốc tổ ? cũng là 16 vị Lang đang thờ tập thể ở đền Hùng núi Hy cương bắc Việt còn sử Hoa thì ngược lại từ nguyên thủy đã có quốc hiệu : Hữu Hùng quốc nhưng trong Hoa sử chỉ nói đến hết đế này đến đế kia tuyệt nhiên chẳng có vị Hùng vương nào cả .
Đi sâu tìm hiểu tới ngọn ngành 2 dòng sử :
HIỀN VƯƠNG thủ lãnh của bộ tộc CẢ nghĩa là đứng đầu ,cổ sử Trung hoa chép thành HIÊN VIÊN của tộc CƠ, trước sinh trú ở lưu vực sông Khang người Việt gọi là Khung giang sau dời về miền sông Cả – Cơ nay là sông Lam người Lào gọi là nâm Khan đánh bại XUY VƯU , xuy là âm của số 4 còn cửu là số 9 là cặp số trấn̉ phía Tây Thiên hạ trong Hà thư. sau đó Hiền vương đánh bại Thái Viêm tổ phụ tộc người miền Xích đạo nóng bức và ̀ đã đúc 3 bộ tộc thành một dân tộc, dân tộc HÙNG kiến lập nên Hữu Hùng quốc – nước họ HÙNG lên ngôi HÙNG VŨ tức VUA HÙNG , vũ chỉ là kí âm chữ Nho của từ vua tiếng Việt ,lãnh thổ của nước họ HÙNG gọi là GIAO CHÍ tức đất GIỮA; chỉ là biến âm ̣ của chỗ- nơi chốn hoặc cũng có thể là âm phiên thiết ‘giao chỉ thiết giữa’ .
xét ra như thế thì xứ Giao chỉ – chỗ Giữa chính là Trung quốc hay Trung nguyên – Trung thổ .
Vua Hùng dạo chơi phương nam bỗng chốc thuyền rồng trôi đến Động đình hồ tức đông hải nay là vịnh bắc bộ gặp và kết hôn với con gái bà Vũ tiên hay Tiên đế sinh ra LỘC TỤC, Lộc là biến âm của lục là số 6 và công thức đã ấn định trong hà thư để sinh ra Lục tộc – Lạc tộc : Hiên viên hay Hiền vương tên tộc là NGU chính xác là NGŨ số 5 ở trung tâm của Hà thư, lấy con bà Vũ tiên là số 1, sinh ra Lộc tục được chỉ bởi số 6 ; ta có: 5+1=6, sau vua HÙNG truyền ngôi đế cho con cả là đế NGHI và Lộc tục được phong là vương phương Nam , Đế Nghi sử Thiên hạ gọi là đế Đường Nghiêu , Kinh hay canh là biến âm của Cóng nghĩa là lạnh cũng la tên ̀ gọi khác của quẻ Khảm chỉ NƯỚC , Nước – Nác cũng đọc là Lạc chữ nghĩa hóa thành ra quốc hiệu Xích qủy hay Thích quỷ của nước ta .(Thích qủy thiết Thủy ) đặc biệt danh từ riêng Xích qủy – thủy đã biến thành từ NƯỚC chung chỉ mọi quốc gia trong nền văn minh Việt ..
Cổ sử Trung hoa không ‘thích’ con đường hôn nhân để kết hợp mà chọn đường chiến tranh để thống nhất , phải có chiến tranh và chiến thắng mới oai …nên viết HOÀNG ĐẾ tức HÙNG VŨ đánh bại HOAN ĐÂU con vua XUYÊN HÚC ở ĐAN THỦY, đan là biến âm của Đơn hay đen, đơn là chiếc là số 1 nguyên thủy tức phương Nam theo Dịch học còn Đan thủy chính là HẮC THỦY , HẮC THỦY là tên gọi khác của sông ĐÀ . HOAN ĐÂU là tổ của người Hmông , từ Mông là ký âm sai của chữ MUN nghĩa là Đen .Một học gỉa người Nhật đã phát hiện Tất cả người tộc Miêu đều nhận mình là người MUN- HMONG .
Thực tế thì chẳng có hôn nhân cũng chẳng có đánh nhau đấy chỉ là một lối ám chỉ , các sử gia dùng diễn tả việc phát triển dân tộc HÙNG về phương nam xưa,tạo thành 2 chi tộc HÙNG , chi tộc phương nam xưa nay đã lộn ngược gọi là người KINH _ CANH biến âm của CÓNG tên khác của quẻ Khảm phương nước màu Đen ngược với phương Ly-La-lửa hướng nóng bức tức Xích đạo màu Hồng .
LA và KINH là anh em cùng cha khác mẹ , cả 2 là con HÙNG VŨ tức vua HÙNG.
Trung tâm của tổ quốc Họ Hùng là đất giao (giữa) lấy chuẩn là sông Cả, căn cứ vào những thông tin của địa lý –lịch sử Việt và sự phân bố các sắc dân có thể xác định : đất Giao là vùng đồng bằng Thanh – Nghệ – Tĩnh và vùng thượng nguồn các con sông : Cả, Chu, Mã ngày nay.
Câu ca dao mà mọi người Việt đều thuộc lòng:
“Công cha như núi Thái Sơn,
nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
Người Việt dùng hai câu này sánh công lao cha mẹ như núi, sông nhưng nó còn chứa các thông tin khác. Nói đến cha mẹ không phải chỉ là cha mẹ, người Việt còn có tục đồng hóa vua với cha mẹ như “Bố Cái Đại Vương” chẳng hạn, và dân còn được gọi là ‘con dân’; công cha nghĩa mẹ còn dùng để ca tụng công đức của quốc tổ, cha mẹ chung đã sinh ra cả một dân tộc; dân tộc họ Hùng , địa danh ‘núi Thái Sơn’ (1 trong 2 từ ‘núi’ hay ‘Sơn’ là thừa) nếu liên kết với từ Thái trong Dịch Lý ta thấy : Thái còn dùng thay chữ Đại , Thái sơn cũng là Đại Sơn, người Việt thấy ngay là Hán văn chuyển ngữ từ ‘núi Đọ’; và câu ‘nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra’ cung cấp thông tin về con sông, sông Mẹ, sông Mã, Mã ký âm là ‘Mẹ’, cũng như chữ Chu trong sông Chu là Cha, tổng kết :. 3 con sông Cả, Cha, Mẹ (Chu và Mã) cộng với Thái Sơn đủ để ta xác định đấy là vùng đất khởi nguyên của tổ quốc Việt: đấy chính là đất Giao, mà tên gọi còn theo lịch sử in dấu tới tận ngày nay. Đất Giao hay Giữa là vùng đất Trung tâm, ngày nay gọi là Trung nguyên – trung thổ chứ không phải theo lối giải nghĩa vớ vẫn … Giao Chỉ là dân có 2 ngón chân … bẹt ra vì leo núi đá.
Lãnh thổ của đất nước chia làm 2 phần Bắc – Nam, dân Họ Hùng cũng chia làm 2 cộng đồng, dân Lửa và dân Nước. Người Lửa còn có các tên khác là: người La hay Lão ,trung tâm cư trú gọi là An ấp hay đại ấp An còn tộc Lạc – Nước còn gọi là dân Kinh hay Kênh-lạch, trung tâm lãnh thổ ban đầu là Lạc Ấp .
Đế Nghi nối ngôi Hùng Vũ hay Hoàng Đế Hiên Viên mở ra triều đại mới đóng đô ở ngã ba Hạc nơi 3 con sông Hồng Đà Lô hội tụ , đế đô mới ở về phía Nam xưa so với đế đô Thiếu lĩnh hay Thiêu lĩnh ở ̉ vùng Thanh Nghệ Tĩnh cuả Hiên Viên hoàng đế vì thế đế Nghi được sử tôn là Nam bang triệu tổ , triệu là chiêu – chúa , tín ngưỡng dân gian Việt gọi là Nam triều thánh tổ ngọc hoàng thượng đế sánh với đế Minh hay Hiên Viên Hoàng đế cũng là Hùng Vũ thần hiệu được tôn là Vua cha ngọc hoàng thượng đế.
Vì những sai lầm của giới sử học mà tận hôm nay người Việt vẫn coi Hoàng đế Hiên viên là tổ của Hán tộc ….và… Hán là Trung hoa ..
Cổ sử cũng nói đến 3 thành tựu khoa học và kỹ thuật của thời này:
- Khi đánh nhau với Xi Vưu, vua phía Tây, Hiên Viên đã sử dụng kim chỉ nam để dẫn đường, đây là thành tựu tuyệt vời của khoa học kỹ thuật Việt, sau này người Phương tây đã học được và áp dụng để xác định phương hướng mãi cho đến ngày nay; không có kim chỉ nam hay la bàn thì không thể đi xa, không có ngành hàng hải tiến bộ vượt đại dương, bộ mặt của thế giới chắc chắn khác xa ngày nay và chắc chắn lịch sử thế giới không diễn ra như hiện có.
Kim chỉ nam là tên Việt trong đó từ ‘chỉ’ là động từ nên cả đoạn rất rõ nghĩa : là cây kim có đầu luôn chỉ hướng nam….; còn trong Hoa ngữ cụm từ ‘chỉ nam châm’ tương tự còn có ‘chỉ nam xa’ không tài nào hiểu nổi nghĩa….
- Hoàng Đế Hiên Viên được tôn là tổ phụ của văn tự Trung Hoa, ý không phải nói hoàng đế chế ra loại chữ Trung Hoa đang dùng ngày nay, mà như đã nói Văn là Dịch và Dịch tức Văn. Nếu tổ thứ nhất của văn tự là Phục Hy với Dịch Lý nút số. Thì Hiền Vương – tổ thứ hai với Dịch Lý vạch – quẻ. Đạo Giáo hay Đạo Lão được xây dựng trên nền tảng học thuyết Hoàng – Lão (Hoàng Đế + Lão Tử). Tinh hoa của triết thuyết Lão Tử nằm trong Đạo Đức Kinh thì người ta đã rõ, còn với Hoàng Đế thì đóng góp gì ? Chắc chắn là Bát Quái ; Tiên Thiên Bát Quái thì đa phần học giả Trung Hoa đều đồng thuận với ý kiến này; chỉ còn tranh cãi về Hậu Thiên Bát Quái mà thôi ; Có 2 trường phái: thứ nhất cho rằng Hậu Thiên Bát Quái cũng do Hoàng Đế sáng chế; phái thứ hai cho là Hậu Thiên Bát Quái do Văn Vương tổ của nhà Chu sáng tác. Dù cho do ai sáng tác đi nữa thì Bát quái cũng vẫn là nền tảng của khoa học truyền thống Việt Nam – Trung Hoa, ý nghĩa của nó ta đã xét ở phần Dịch Lý.
- Thành tựu kế tiếp là y học cổ truyền của Việt Nam và Trung Hoa:
Tương truyền sách “Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn” có từ thời Hoàng Đế, trong đó đã có đầy đủ những nguyên lý của nền y học cổ, nền y học này đã vận dụng các nguyên lý Dịch học vào ngành cơ thể học và y học để trị bệnh cho con người, đấy là cuốn sách nền tảng của Đông y còn nguyên gía trị cho đến bây giờ và càng ngày càng có địa vị vững vàng trong thế giới hiện đại, đối với khoa học nó còn đầy những điều không thể hiểu nỗi … nhưng rõ ràng có tác dụng thực sự, dù tự nhận là tiên tiến nhưng người ta vẫn đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, nào kinh – lạc, nào huyệt đạo rồi châm cứu, châm tê V.v…, chữa bệnh ở nội tạng lại châm ở bàn chân hay vành tai … thực không hiểu nỗi.
Thực sự ‘Hiên Viên’ chỉ là ký âm chữ Nho của ‘Hiền vương’ hay Hiền lang là thủ lãnh đã đúc ba bộ tộc thành ra họ HÙNG dân nguyên thủy của nước Hữu Hùng hay Hữu Hùng quốc chính là thủy tổ của người VIỆT NAM ngày nay đồng thời cũng là tổ tiên của ‘Viêm Hoàng tử tôn’ tức Hoa tộc thứ thiệt . (Hoa tộc dỏm tức hãn tộc chính là con cháu của ông tổ Thiên vu Hung nô Mao Dun xưa )




