Sử Việt và sử Trung hoa chỉ có 1 Ngô vương .
Với sử Việt là Ngô Quyền cũng thường chép là Ngô vương con rể của Dương Diên Nghệ (chồng của Dương như Ngọc) .
Với
sử Trung quốc Ngô vương tức Ngô vương Quyền cũng là Ngô Tôn
Quyền , sử thường chép là Tôn Quyền là vua kiến lập nước Ngô
thường gọi là Đông Ngô (trong thế đối nghịch với Tây Thục).
Sử
thuyết Hùng Việt cho là lịch sử nước Hùng Việt có 2 Ngô vương
, Tiền Ngô vương là Ngô Tôn Quyền hay Tôn Quyền vua nước Đông Ngô
thời Tam quốc và Hậu Ngô vương là Ngô Quyền trong sử Việt , đức
Ngô Quyền được sử Việt coi như là vua trung hưng đất nước mở ra
thời độc lập tự chủ sau ngàn năm Bắc thuộc .
Đặc
biệt giai đoạn lịch sử này giới sử học Việt Nam lầm lẫn rất
nhiều ;Việt sử hầu như bị lái qua 1 hướng khác mất hẳn sự
liên thông với qúa khứ xa xăm 5000- 6000 năm thời Tam hoàng – Ngũ
đế ( phần dã sử có mấy hàng chữ nhận là con cháu của Thần Nông Viêm đế chung chung) .
Đối chiếu 2 dòng sử viết về Tiền Ngô vương nhận ra sự tương đồng :
Tiền Ngô vương .
|
Sử Việt Nam
|
Sử Trung hoa
|
Ghi chú
|
|
Dương Diên Nghệ
|
Tôn Kiên
|
Thời Lưỡng triều kháng ngụy
|
|
Dương Đình Nghệ
|
Tôn Sách
|
Sử Tàu gọi là thời Tam quốc
|
|
Ngô vương – Ngô Quyền
|
Tôn Quyền – Ngô vương Quyền – Ngô tôn Quyền
|
Ngô Quyền là con ruột Dương Diên Nghệ – Tôn Kiên không phải là con rể như sử Việt viết .
Tôn
Kiên từ miền Đông Nam Trung quốc chỉ 1 lần ra quân sấm sét đã
đánh tan quân Đổng Trác , tịch thu ấn truyền quốc của Hán tộc
đem về Nam ; thật là vinh quang biết mấy nhưng giữa đường bị 1
tướng dưới quyền của Lưu Bị phục binh dùng tên bắn tử thương .
Đây chính là nguyên nhân gây ra ‘thù trong’ trong cuộc chiến ‘thù
trong – giặc ngoài ‘ giữa 3 bên Thục – Ngô – Ngụy , nước Ngụy
chính à vế ngụy – ngoại – ngoài . Sư kiện Tôn kIên chết vì mũi
tên củ̃a 1 tướng Tây Thục được người viết sử Việt biến thành 1
nhân vật : Kiều công Tiễn phản bội giết chết Dương diên Nghệ ,
công là ông , không phải Kiều công chính xác là Kiểu công – Cửu
công – số 9 chỉ phía Tây tức Tây Thục của Lưu Bị .
Về Hậu Ngô vương , Sử thuyết Hùng việt tóm tắt sắp xếp trong bảng sau :
|
Sử Việt
|
Sử Trung hoa
|
Sử thuyết HV
|
|
Khúc thừa Dụ – ông Cụ
|
Lưu tri Khiêm – Lê Khiêm (lưu tri thiết Lê)
|
|
|
Khúc Hạo – ông Cậu
|
Lưu Ẩn – Lê Ẩn
|
Ngô xương Văn – Ngô xương Ngập
|
|
Khúc thừa Mỹ – ông Cả
|
Lưu Nghiễm – Lưu Cung
Lê Nghiễm – Lê Cung
|
Ngô văn Xương – Ngô vương (văn xương thiết vương)
|
Việt sử thông giám cương mục
(Tiền biên) viết: “Họ Khúc là một họ lớn lâu đời ở Hồng Châu. Gặp thời
buổi loạn lạc, nhân danh là hào trưởng một xứ, Thừa Dụ tự xưng là Tiết
độ sứ…” . năm 905 nhà Đường công nhận ông là Tĩnh hải quân tiết đ̀ộ sứ .
Có tài liệu cho rằng quê của họ Khúc là châu Đường Lâm mà nay thuộc Thanh hóa nhưng có sử liệu khác cho châu Đường Lâm này là Đường Lâm, Sơn Tây thuộc Phong châu .
Năm ,906 vua Đường phong thêm cho Khúc Thừa Dụ tước “Đồng bình chương sự” , ngạch quan trung ương chỉ đứng sau Tể tướng .Dù ông không xưng vương xưng đế, nhưng đời sau nhớ ơn và gọi ông là Khúc Tiên chủ..
Năm ,907 Khúc Thừa Dụ mất. Con ông là Khúc Hạo lên kế vị lãnh chức Tĩnh hải quân tiết độ sứ . Khúc Hạo có công kiến tạo nề nếp cho đất nước nhưng không xưng vương , ông mất năm 917 .
Năm 917 Khúc Hạo mất , Khúc Thừa Mỹ thay anh làm Tĩnh hải quân tiết độ sứ , Năm 923 hoặc 930 bị tướng Nam Hán bắt đem về Phiên Ngu .
Đồng thời với họ Khúc dắy nghiệp . bên Trung quốc có họ Lưu của Lưu tri Khiêm:
Năm 879, quân nổi dậy của Hoàng Sào
tràn vào thủ phủ Quảng châu của Lĩnh Nam Đông đạo. Sau khi Hoàng Sào từ
bỏ Quảng châu vào năm 880, khu vực rơi vào cảnh hỗn loạn. Lưu Khiêm thừa cơ chiếm cứ Phong châu. Năm 883, Đường Hy Tông bổ nhiệm Lưu Khiêm làm Phong châu thứ sử. kiêm Hạ Thủy trấn sứ.
Theo Tân Đường thư, ông là người Thượng sái, song đến sống ở Phong châu do nhiễu loạn ở quê hương. phụ thân ông là Lưu An Nhân là người Thượng sái và chuyển đến vùng Mân (tức Phúc Kiến)
Sau khi Lưu Khiêm qua đời vào năm 894, Đường Chiêu Tông bổ nhiệm Lưu Ẩn làm Phong châu thứ sử thay thế cho cha.
Năm 905, Đường Ai Đế ban chức ‘Đồng bình chương sự’ cho Lưu Ẩn
năm 908 Hậu Lương Thái Tổ sách phong Lưu Ẩn làm Tiết độ sứ cả hai quân là Thanh Hải quân và Tĩnh Hải quân ( tương đương Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam và một phần Quảng Tây, trị sở nay thuộc Hà Nội, Việt Nam) kiêm An nam đô hộ .
Năm 909, Hậu Lương Thái Tổ phong Lưu Ẩn là Nam Bình vương
Cũng vào năm 910, Hậu Lương Thái Tổ phong Lưu Ẩn là Nam Hải vương.
Năm 911, Lưu Ẩn lâm bệnh mất , em ông là Lưu Nham nắm quyền cai quản quân.
Năm 917, Lưu Nham tuyên lập nước Đại Việt định đô ở Phiên Ngô , truy tôn Cha Lưu Tri Khiêm là Thánh Vũ hoàng đế miếu hiệu “Đại Tổ” , anh Lưu Ẩn là “Tương Đế”, thụy hiệu “Liệt Tông”, táng tại Đức lăng.
Vương quốc Đại Việt cho mở rộng Hưng Vương Phủ (ngày nay là thành phố )Quảng Châu làm kinh thành .
Chính
Hưng vương phủ đã chỉ ra Lưu Ẩn trước đó mang tước Hưng vương ,
có Hưng vương thì mới có Hưng vương phủ , Sử sách Tàu đã giấu
nhẹm chuyện này vì Hưng vương liên quan tới Phong châu nơi Lưu Tri
khiêm làm Thứ sử .
Theo
sử sách Tàu thì Phong châu nơi Lưu Tri Khiêm làm thứ sử là
thành phố Triệu khách – Quảng đông ngày nay như vậy Ta – Tàu 2
phương tời cách biệt không có gì phải bàn về họ Khúc Việt và
họ Lưu Tri Trung hoa .
Có Thông tin …Tùy Văn Đế năm 598 đổi Hưng châu thành Phong châu, tức là vùng Sơn Tây, Phú Thọ, Tây Bắc
Việt này nay như thế có thể coi đất Phong châu khởi phát của
Cha con họ Lưu tri cũng là Hưng châu ; phải chăng chính vì thế
mà Lưu Ẩn còn gọi là Hưng vương và cũng vì thế mà có Hưng
vương phủ ở Quảng châu sau mở rộng thành kinh đô nước Đại Việt
năm 917 . ?Cũng do Hưng châu mà lịch sử Việt có Bố Cái đại
vương Phùng Hưng , Hưng châu sau gọi là Tồng Hưng hoá trên bản đồ
Việt .
Đối chiếu 2 dòng sử Việt và Trung hoa nhận ra :
Cùng quãng thời gian ở Cũng 1 vùng đất Phong châu – Hưng châu không thể có 2 dòng thủ lãnh họ Khúc và Lưu Tri .
Sử thuyết Hùng Việt cho rằng :
Thực ra không có thủ lãnh họ Khúc , đây chỉ là trò chơi chữ nghĩa mà thôi , bài viết trước đã chỉ ra :
Khúc thừa Dụ chính xác là Cúc Dụ . Cúc dụ thiết Cụ , ông Cụ .
Họ Khúc ngày nay hóa thành tên của làng Cúc bồ (Có lẽ là làng Cúc Bố thì hợp hơn tương tự trường hợp Bố – Cái đại vương ) .
Khúc Hạo hay Cúc hạo thiết cậu – ông Cậu
Khúc
thừa Mỹ – Cúc Mỹ thiết Cả – ông Cả nghĩa là thủ lãnh ,
người lớn nhất .Gọi là ông Cả vì mãi tới đời Khúc thừa Mĩ
họ Khúc mới chính thức kiến quốc xưng vương .
Ông Cụ ông Cậu ông Cả mới đích thực là tên mà nhân dân gọi thủ lãnh của mình.
Và Lịch sử Trung hoa cũng chẳng có anh em Lưu Ẩn – Lưu Cung .
Lưu
Khiêm cũng là Lưu Trí Khiêm ; theo phép phiên thiết Hán văn : lưu
tri thiết Lee tức họ Lí hoặc Lê . lịch sử không có ai là Lưu
Khiêm – Lưu Ẩn – Lưu Nghiễm gốc ở Phong châu nay là Triệu Khánh
mà chỉ có cha con Lê Khiêm – Lê Ẩn – Lê Cung gốc ở Phong châu hay
Hưng châu Tây Bắc Việt Nam ngày nay .
Khúc
thừa Dụ , Khúc Hạo , Khúc thừa Mĩ của dòng sử Việt chính
là Lê Khiêm , Lê Ần và Lê Nghiễm hay Cung trong sử liệu Trung hoa .
Tìm hiểu thêm 1 chút :
Sách Mộng Khê bút đàm của Thẩm Quát (1031 – 1095) viết:
“Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu của đời Hán đời Đường. Ngũ Đại loạn lạc, Ngô Văn Xương mới chiếm An Nam rồi dần chiếm đất của Giao, Quảng…
“Giao Chỉ là đất cũ Giao Châu của đời Hán đời Đường. Ngũ Đại loạn lạc, Ngô Văn Xương mới chiếm An Nam rồi dần chiếm đất của Giao, Quảng…
Thời
Ngũ đại người Giao Chỉ trước chiếm An Nam sau chiếm đất Giao
đất Quảng thì không ai khác ngoài anh em Lê Ẩn – Lê Nghiễm hay
Cung.
Sử Việt chỉ có anh em Ngô xương Văn và Ngô xương Ngập không có ai là Ngô văn Xương con của Ngô Quyền .
Thẩm Quát được coi là nhà bác học tầm cỡ của Trung hoa nên điều ông ta viết ra không thể xem thường .
Sử
thuyết Hùng Việt cho Ngô văn Xương của Thẩm Quát chính là anh
em Lê Ẩn – Lê Cung , văn xương thiết vương , Ngô văn Xương không phải
là tên riêng mà là Ngô vương cụm từ chỉ các vương nước Đại
Việt đô ở thành Phiên Ngung hay Phiên Ngô ở đây chính là chỉ anh
em Lê Ẩn – Lê Cung ..
Nối
kết đối chiếu với sử Việt …Ngô văn Xương cũng là Ngô xương Văn
luận ra : anh em Lê Ẩn – Lê Cung cũng chính là anh em Ngô xương Văn
– Ngô xương Ngập .
Tới đây có thể hiệu chỉnh 1 đoạn lịch sử Việt :
Thời
Hậu Ngô trong sử Việt chính là thời anh em Lê Ẩn – Lê Cung dựng
nước Đại Việt kinh đô ở thành Phiên Ngu năm 917 .
Ngô
văn Xương – Ngô vương dựng nghiệp từ đất An Nam sau mới thu phục
Giao châu và Quảng châu , hợp nhất lãnh thổ và dân cư 3 vùng
miền lập nên nước Đại Việt năm 917 , kinh đô đầu tiên đóng ở
thành Phiên Ngu – Ngô .
Sau Ngô vương Lê Nghiễm nhận mình là hậu duệ của Lí Bôn (Lưu Bang) nên đổi tên nước thành Đại Hưng , người Tàu cố ý mợp mờ biến ra Đại Hán sau gọi là Nam Hán .
Sử
chép …Lưu Bang người đất Phong , đất Phong chính là Phong châu –
Hưng châu của Ngô vương nên Ngô vương Lê Cung mới truy nhận và đổi
tên nước theo tên gọi quê hương mình . Sử thuyết Hùng Việt cho
Lí Bôn trong Hùng phả là Hùng Trịnh vương – Hưng đức lang , từ
Trịnh chỉ Nam Trịnh là nơi đứng chân ban đầu của Lưu Bang khi
mới xưng vương , Hưng đức thực ra là Hưng đế cũng là Hưng lang
nhắc nhở về quê cha đất tổ Phong châu – Hưng châu của Lí Bôn –
Lưu Bang .
Đoạn sử đồng thời cũng chỉ ra :
Lịch
sử Việt phải thêm vào triều Dương của vua Dương Tam Kha tức
Dương bình vương đồng thời xóa ngay đi chuyện thái hậu Dương vân
Nga lấy ngôi cả của con tặng cho người tình là tướng Lê Hoàn
tức vua Lê đại Hành . Không biết bởi tại đâu mà đám hậu sinh
mắc tội tày đình vấy máu heo máu chó vào long bào người anh
hùng phá Tống – bình Chiêm như thế . Phải chăng là tại nghe theo
Tứ khố toàn thư …cái bẫy giăng sẵn cực kì thâm độc của kẻ
thù ?…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét