Hành trình Đi Tìm Tổ Tiên Việt của con cháu Việt ngày nay đã trở
nên hùng hậu, đa ngành, đa phương cách, nhiều hy sinh, dâng hiến lặng thầm, tụ
hội bốn bể năm châu, rạng ngời hào quang Tổ Tiên Bách Việt.
Tổ Tiên trong nguồn Thư tịch cổ
Ngày 24- 1-
2014. Trên đường tạ mộ Cha Lạc Long Quân tại Bình Minh- Bình Đà- Thanh Oai- Hà
Nội, bác Nguyễn Mạnh Can dẫn chúng tôi thăm nhà TS Hán Nôm Lã Duy Lan ở thôn
gần đấy. Lã Duy Lan nghỉ hưu, đóng cửa, tắt điện thoại, im lặng Đi Tìm Tổ
Tiên Việt. Chúng tôi
đến bất ngờ, ông không có nhà. Vợ và con cháu ông tiếp chúng tôi trong ngôi nhà
hai tầng, sân vườn cây, rau hoa, chén trà xanh ấm tình quê.
Với người
viết chân chính, ta đọc tác phẩm của họ, đủ mến yêu, kính trọng, đồng cảm. Gặp
được họ là hạnh phúc. Chưa gặp vì họ ở ẩn lại càng yêu mến.
Tôi đọc Bản sắc Văn
Hóa Người Việt (NXB Công
An Nhân Dân- 2007- Lã Văn Lan) để cùng Đi Tìm Tổ Tiên Việt.
TS Lã Duy
Lan với tư duy làm sáng tỏ Bản Sắc Văn Hóa Người Việt qua Đất- Nước- Người. Những con
người đã sống hàng vạn năm trên Đất- Nước ấy, thể hiện cách trồng cấy lúa nước,
cách ăn, chơi, hội hè, tập quán, tín ngưỡng… cổ truyền vẫn con nguyên vẹn nơi
đây. Nơi mà các nhà khoa học thế giới gần đây đã khẳng định “Chính Đông
Nam Á đã là một trong những cái nôi hình thành loài người. Là địa bàn hình
thành đầu tiên của đại chủng phương Nam.”. Cái nôi ấy, địa bàn ấy, theo những bộ sách cổ của nước
ta còn để lại, chính là“Bộ tộc Việt Thường, cùng cư dân Bách Việt với nơi
phát tích đầu tiên là nền Văn minh lúa nước sông Hồng”.
Phần thư
tịch Tổ Tiên gửi lại, chúng tôi suy ngẫm mục Từ nguồn Thư
tịch cổ (Bản Sắc Văn Hóa Người Việt- Trang 25).
TS Lã Duy
Lan nghiên cứu thư tịch cổ Bách Việt Triệu Tổ Cổ Lục. Ông cho biết ở hai xã Phú Lãm và Phú
Lương đầu huyện Thanh Oai- Hà Nội ngày nay (tức địa bàn chủ yếu của vùng Đại
Lôi (tổng Sốm thời Lý) xa xưa đã có các vị tộc trưởng họ Nguyễn truyền đời
trông giữ phần mộ, thờ cúng các vị Tổ Tiên gây dựng nên Bách Việt và các vị có
công với nước thời Thục- Triệu, Hai Bà Trưng, Tiền Lý. Các vị Tổ Tiên Bách Việt
nhiều thời sống ở vùng Thanh Oai, chết ở đây, nên còn phần mộ và đền thờ, lễ
hội cúng giỗ, phong tục, lối sống, ở đây.
Vùng này xưa
có Kinh Đô Nghĩa Lĩnh của Bách Việt và các vua Hùng. Phong Khê thời Thục- Triệu. Mê Linh.
Phong Châu thời Hai Bà
Trưng. Long Biên thời Tiền- Hậu Lý (Lý Nam Đế).
Các vị tộc
trưởng họ Nguyễn nối đời sinh ra từ cụ Tổ họ Nguyễn đầu tiên của Bách Việt đã
giữ cổ phả bí truyền, và “Giữ mả Tổ”. Họ Nguyễn ở tổng Sốm xưa nay, xứng trách nhiệm dòng trưởng đối với trăm họ, trông nom mộ các vị Tổ Bách Việt,
giữ đền miếu, chùa, ngày cúng lễ, thể hiện qua các phong tục, lễ hội, tín
ngưỡng vùng tổng Sốm- Thanh Oai. TS Lã Văn Lan viết tổng “Sốm” (là âm từ chữ Sấm tức Đại Lôi thời
Lý).
Trong suốt
gần nghìn năm Bắc thuộc, tộc trưởng Nguyễn vẫn trông mồ mả, cúng lễ Tổ Tiên
Bách Việt, dưới hình thức ẩn hiện, không khoa trương nên qua mắt cai trị phương
Bắc. Thời Đinh Bộ Lĩnh năm 968, vua Đinh đăng quang, về tận nơi, biết vùng
Thanh Oai có mộ, đền miếu thờ Tổ Tiên Bách Việt đã phong trưởng họ Nguyễn là
Nguyễn Đức tước vị Quốc công, giao quyền quản lý 2.400 mẫu ruộng trong vùng hai
xã Phú Lãm và Phú Lương- Thanh Oai để trồng cấy, lấy tiền xây 72 ngôi đền (gọi là
Nam Thiên thất nhị thập từ) hằng năm mở lễ hội, tế lễ, rước đón hội đồng tộc
biểu toàn quốc và đồng bào cả nước về lễ Tổ và dự lễ hội.
Từ đó về
sau, các trưởng tộc Nguyễn (dù không tham gia chiến trận) vẫn được các triều
Đinh, Tiền Lê, Lý phong là Quốc công, thời Trần phong Quốc phụ, thời Lê, Nguyễn phong Hương quận
công tiếp tục
quản lý 2.400 mẫu ruộng thờ và tổ chức lễ hội, cúng giỗ, chăm mộ Tổ Tiên Bách
Việt. Vị Hương quận công cuối cùng bị thực dân Pháp bãi chức, nên vua Thành
Thái phong Thái tử Thiếu Bảo, tên thật là Nguyễn Vân Ý, mất năm 1951. Ngôi đền
thờ Bách Việt Thiệu Tổ và phả cổ, thư tịch cổ, những ngôi mộ cổ về Tổ Tiên
Bách Việt, dòng họ Nguyễn Vân giao cho cụ Nguyễn Vân Tằng tại làng Vân Nội-
tổng Sốm. Cụ Tằng mất năm 2013, giao cho con trai Nguyễn Vân Liên.
Xưa kia,
tổng Sốm lễ hội, cúng giỗ Tổ Tiên suốt ba tháng mười ngày trong một năm. Các
Thần tích, Thần phả được biên soạn đều theo truyền thuyết dân gian, nửa hư, nửa
thực để giấu kín tung tích thật, chống kẻ thù đào mồ mả. Còn những tung tích
thật như tên, niên hiệu, ngày sinh, ngày hóa, nơi an táng, sự tích các vị được
thờ, thì các vị tộc trưởng họ Nguyễn ghi vào các bộ sách Bách Việt
Triệu Tổ Cổ Lục (ghi từ khởi
đầu đến hết thời Bách Việt và các vua Hùng). Cổ Lôi Ngọc
phả truyền thư (ghi về
thời Thục- Triệu, Hai Bà Trưng, Tiền Lý và thời Bắc thuộc). Phả họ Nguyễn (ghi
về thời sau này). Những bộ sách này tuyệt đối không truyền ra ngoài, có thơ dặn
lại: “Bất dụng tha nhân biệt ngoại truyền”.
Việc tổ chức
lễ hội cúng giỗ Tổ Tiên Bách Việt theo nghi thức Quốc gia ở Đại Lôi (tổng Sốm)
chấm dứt vào triều Thành Thái (1907). Vua Thành Thái bị đi đày. Giặc Pháp cho
lính về tổng Sốm tàn phá cướp bóc. Dân chống lại, cuộc chiến chết 200 người. Cụ
Nguyễn Vân Ý đã cùng Hội đồng tộc Nguyễn chia nhỏ 2.400 mẫu ruộng thờ, lấy tiền
di chuyển 72 ngôi đền chưa bị phá đi các miền quê khác, xây mới nhiều đền thờ
dọc hai bờ sông Nhuệ, sông Tô Lịch…
Bốn vạn bản
Thần tích, Thần phả được các cụ tổ chức sao chép lại, soạn mới bổ sung truyền
con cháu, chia nhau cất giấu. Phần lớn Thần phả, Thần tích đều ghi “Đông các
Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn năm Hồng Phúc nguyên niên, Nguyễn Hiền phụng
sao”, đóng dấu
thời Lê, Thời Nguyễn. Địa điểm “tu thư” thực hiện tại làng Thạch Bích, xã Bích
Hòa, huyện Thanh Oai (cách Phú Lãm, Phú Lương khoảng ba cấy số). Bản sao giao
cho các làng. Các bản sưu tập đưa lên Đền Hùng (Phú Thọ cất giấu). Sau bị thực
dân Pháp thu giữ, nay còn một số bản lưu tại Thư viện Hán- Nôm Hà Nội do Trường Viễn
Đông bác cổ bàn giao
lại.
TS Lã Duy
Lan nghiên cứu Bách Việt Triệu Tổ Cổ Lục tìm hành trình Tổ Tiên Bách Việt
cách nay khoảng bảy nghìn năm.
Tổ Tiên ta
là một nhóm Việt Mường bước từ trong rừng ra. Định cư ở vùng đất phía Đông chân
núi Ba Vì, kéo dài tới vùng dất chùa Tây Phương nay là huyện Thạch Thất- Hà
Nội. Từ đấy sinh sôi, tỏa đi các hướng đồng bằng Bắc bộ, miền núi, miền Trung,
ven biển. Thời kỳ ở chân núi Ba Vì, trong Bách Việt
Triệu Tổ Cổ Lục gọi là thời
Cực Lạc, nước Cực Lạc. Đó là thời kỳ con người ở hang động, vách đá, đã
biết dùng lửa, săn bắt sinh vật làm thức ăn, quần hôn, mặc vỏ cây, dây quấn.
Gọi là Việt Thường Thị tức là người dùng thừng (thường- thừng) để làm nên quần
áo
Thời Cực Lạc
là sự giao thoa dài giữa quần hôn và hôn nhân gia đình cá nhân, giữa Mẫu quyền
và Phụ quyền. Quần hôn là Mẫu hệ- Mẫu quyền. Sự tích Trầu
Cau chính là bi
kịch giữa quần hôn và hôn nhân một vợ một chồng (giai đoạn đầu tiên chấm dứt
quần hôn).
Cuối thời
Cực Lạc cách nay khoảng 6.000 năm, bắt đầu chia họ. Lập gia đình riêng. Có chín
họ được lập lúc đó, bao gồm năm họ Việt, bốn họ Việt- Mường. Khi có chữ Việt
Nho gọi là Cửu Tộc. Nơi diễn ra cuộc chia họ ấy theo Bách Việt
Triệu Tổ Cổ Lục ghi là ở
khu vực các làng Hạ Lôi- Bằng Trù huyện Thạch Thất- Hà Nội. Chín họ đầu tiên là
Nguyễn, Trần, Dương, Chu, Vũ, Đinh, Quách, Bạch, Hà.
Sau khi lập
gia đình riêng, chia họ, họ Nguyễn đứng đầu cùng nhiều họ khác xuống vùng So-
Sở thuộc Quốc Oai- Chương Mỹ nay là Hà Nội, lập Nhà nước manh nha đầu tiên gọi
là thời Viêm Bang, nước Viêm Bang người đứng đầu là Đế Viêm, sau là Thần Nông.
Thời giữa
Viêm Bang từ 9 họ ban đầu (Tòa Cửu Long ở các chùa thờ chín họ đầu tiên của
Bách Việt). Từ 9 họ, lập ra 72 họ. Mỗi họ có một người đứng đầu. Có 72 động
chủ, có giếng nước ăn riêng. Sau này các họ mới lập thêm dùng đặc sản địa
phương đặt tên cho họ mình: Lê, Lý, Ngô, Đỗ… Họ Lã là kỷ niệm về việc bắt đầu
biết đào ao, đào giếng. Cuối thời Viêm Bang từ vùng So- Sở, các họ vượt sông
Đáy, xuống định cư ở vùng đầu Thanh Oai, mở ra thời Bách Việt và các vua Hùng,
khai phá đồng bằng Bắc bộ, Trung bộ, đi chinh phục thêm các vùng đất mới xa
hơn.
Bách Việt Triệu Tổ Cổ Lục ghi “Tiên La
tương địa” tức là vùng
đất bồi, đất nát Tiên La nay thuộc làng Thanh Lãm xã Phú Lâm có vị vua đầu tiên
mở đầu thời kỳ khai phá đồng bằng là Đế Tiết. Đế Tiết sinh ra Đế Thừa, đều đóng
đô tại Tiên La. Hại vị dạy dân quan sát khí hậu, thời tiết để ổn định việc gieo
trồng các mùa, giống cây. Nếm các vị lá cây, thảo dược làm thuốc chữa bệnh.
Đặc biệt cụ
Đế Thừa còn gọi là Sở Minh Công, vừa kế nghiệp vua cha, vừa đặt nền móng cho
việc đi chinh phục thêm các vùng đất mới. Ngày sinh mồng 1 tháng sáu Âm lịch.
Ngày hóa mồng 10 tháng 10 Âm lịch của cụ Đế Thừa được lấy làm ngày quốc lễ, lễ
xuống đồng và lễ cúng cơm mới. Đế Thừa sinh ba con trai là Nguyễn Minh
Khiết, Nguyễn Nghi Nhân, Nguyễn Long Cảnh, đều là những bậc Thánh nhân.
Nguyễn Minh
Khiết, Nguyễn Nghi Nhân là hai anh em sinh đôi, giống nhau như đúc. Hai anh em
thường đi đánh cá ở vùng hồ Sương Mù (Hồ Tây- Hà Nội ngày nay) Nguyễn Minh Khiết
lấy bà Đỗ Thị Ngoan (Đỗ Quý Thị) ở vùng hồ này. Bà Ngoan hiền lành nết na, phúc
hậu, yêu mến cả hai anh em. Khi lấy ông Nguyễn Minh Khiết vẫn hay gọi tên em
trai ông Khiết là Nguyễn Nghi Nhân. Ông Khiết bỏ đi, lấy vợ hai ở làng Khương
Đình (quận Thanh Xuân- Hà Nội ngày nay). Bà Ngoan bỏ đi tu Đạo Sa Bà đắc đạo
được tôn là Hương Vân Cái Bồ Tát.
Sau khi anh
lấy vợ, Nguyễn Nghi Nhân buồn (họ là ba nhân vật cổ tích Trầu Cau) xin vua cha
cấp thuyền bè, lương thực, vũ khí, cùng một số dân chúng và binh lính đi lập
nghiệp nơi xa.
Nguyễn Nghi
Nhân ngược lên hướng Bắc, đến vùng Động Đình Hồ (nay là Trung Quốc) chinh phục
các bộ tộc ở đấy, lập ra nước Sở. Đời sau gọi ngài là Đế Nghi. Các hậu duệ của
ngài kế tục nhiều đời gọi là Sở Hùng Thông, tham chiến với các nước ở Bắc và
Nam sông Dương Tử thời cổ đại.
Ở vùng Tiên
La nay là Thanh Oai, cụ Đế Thừa qua đời, Nguyễn Minh Khiết được kế ngôi gọi là
Đế Minh đóng đô ở Phong Châu cách Tiên La khoảng một cây số, phía ngoài. Bên
cạnh sông Hát là một nhánh sông Đáy chảy ra.
Phong Châu
nguyên gốc là bến nước được xếp bằng đá ong làm bậc lên xuống, được Bắc phương
ghi chép lần đầu trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Phong Châu cũng là tên gọi của cả thời Bách
Việt và các vua Hùng đóng đô ở đây.
Thời Đế Minh
trị vì, mở đầu cho thời Bách Việt và các vua Hùng, có biên giới từ phía Bắc đến
bờ Nam sông Dương Tử, biên giới phía Nam đến tỉnh Quảng Nam ngày nay.
Khi Nguyễn
Lộc Tục con trai Đế Minh (Nguyễn Minh Khiết) và Đỗ Thị Ngoan (Đỗ Quý Thị)
trưởng thành thì ở vùng Tử Di Sơn (chân phía Đông dãy Hymalaya là thượng nguồn
sông Dương Tử) có giặc Gạc Ma nối dậy. Nguyễn Lộc Tục cùng người chú thứ ba
(Nguyễn Long Cảnh) và tám người cậu họ Đỗ, được cử cầm quân dẹp giặc. Đến vùng
Hồ Động Đình, Nguyễn Lộc Tục gặp bà Hồng Đăng Ngàn, con gái vị chúa hồ tộc Bách
Việt. Dẹp giặc xong, Nguyễn Lộc Tục trở lại, cưới Hồng Đăng Ngàn rồi ở lại cai
quản vùng này. Bởi thế đời sau gọi ngài là Kinh Dương Vương, do phần đất ngài
cai quản có tên là Kinh Châu- Dương Việt.
Khi Đế Minh
già yếu qua đời thì mười lăm bộ trong vùng Phong Châu họp lại, cử người đi đón
Kinh Dương Vương trở về kế ngôi thay cha làm vua nước Xích Quỷ.
Nguyễn Lộc
Tục- Kinh Dương Vương và Hồng Đăng Ngàn sinh năm con trai: Hùng Nghiêm, Hùng
Quyền, Hùng Hiển, Hùng Quyên, Hùng Tiến. Hùng Tiến con út chết trẻ. Hùng Hiển
con thứ ba húy là Sùng Lãm, tên tự là Phúc Thọ, được truyền ngôi vua là Lạc
Long Quân (Hùng Hiển Vương).
Về Phong
Châu, bà Hồng Đăng Ngàn cùng chồng là Kinh Dương Vương (Nguyễn Lộc Tục) đem
nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt the về dạy dân. Cung cách ăn mặc của dân thay
đổi, váy lụa sồi, áo the, thay lá cọ, sợi dây gai. Kinh Dương Vương đẩy nhanh khai
phá đồng bằng, ổn định dân sống ấm no, an vui, bình đẳng. Ngài hóa vào ngày 25
tháng 12 Âm lịch, được dân suy tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ngày 23 tháng Chạp
tiễn “ông Công” là ông bản cảnh thành hoàng, lên chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế hội
họp Thiên đình.
Những ngày
lễ tiết cổ truyền của người Việt đều là những ngày sinh, ngày hóa của các vị
vua, các bà vợ có công với dân Bách Việt được thờ cúng tại các ngôi chùa và
điện Mẫu. Các lễ hội đình, đền, chùa hằng năm tại các vùng miền đất Việt đều là
sự cúng giỗ các vị Tổ Tiên Bách Việt và nhân Thần nước Việt. Không có lễ hội cổ
truyền nào du nhập từ phương Bắc như ta nhầm tưởng.
Kinh Dương
Vương sinh được năm người con trai, trong đó một người chẳng may lâm bệnh mất
sớm. Bốn người còn lại được vua giao trông nom từng phần việc giúp dân mở các
nghề mới. Người con thứ tư là Nguyễn Lãm được kế ngôi gọi là Lạc Long Quân-
Hùng Hiển Vương. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là cháu nội Đế Nghi (Nguyễn Nghi
Nhân), con gái Đế Lai (con của Đế Nghi) khi Âu Cơ cùng vua cha về thăm quê Phong
Châu. Lạc Long Quân và Âu Cơ đều là chắt nội của cụ Đế Thừa (cùng một bọc sinh
ra) cùng huyết thống.
Từ Kinh
Dương Vương đến Lạc Long Quân (Hùng Hiển Vương) lập Nhà nước Văn Lang. Từ Lạc
Long Quân chia ra trăm họ, lấy họ Nguyễn là Trưởng tộc Việt. Rồi sinh sôi, bền
vững đến một trăm vua Hùng, kéo dài 2.662 năm đều đóng đô ở Phong Châu. Trong
đó mười tám đời thống nhất được Bách Việt. Danh sách 100 vua Hùng, 18 đời thống
nhất và Bách Việt đều được ghi trong Bách Việt Triệu Tổ Cổ Lục.
Truyền
thuyết Lạc Long Quân- Âu Cơ một bọc trăm trứng có nguồn gốc sinh thành từ tế
bào nhân chủng học họ Nguyễn. Đó là máu huyết thật, không phải huyền thoại do
tưởng tượng nghệ thuật, để gắn kết tình đoàn kết các dân tộc Bách Việt.
Dân tộc ta,
Tổ Tiên ta đi từ máu huyết đến huyền thoại thật thiêng liêng. Đó là hiện tượng Độc nhất vô
nhị của loài
người. Bởi Tổ Tiên ta phải tránh sự hủy diệt của kẻ thù nội, ngoại xâm, nên ẩn
giấu vào Đất, Nước, hồn Người, thành Hồn Thiêng Sông Núi chiến thắng mọi kẻ thù. Kẻ thù
truyền kiếp muốn người Việt bơ vơ, không Tổ Tiên, Cha Mẹ, không văn hóa cội
nguồn để thôn tính, đồng hóa, cướp Đất Nước, diệt giống nòi. Nhưng họ đã lầm.
Tổ Tiên Bách Việt sống dậy cuồn cuộn sóng Đất- Trời- Người. Không kẻ thù nào
khuất phục nổi.
Đi tìm những di tích thiêng liêng của Tổ Tiên
Thư tịch về
Tổ Tiên Việt, soi sáng cho chúng ta đi tìm những di tích, dấu tích thiêng liêng
của Tổ Tiên hiện hữu trên chính Đất- Nước- Người Việt, tồn tại muôn đời.
Việc thờ
cúng các vị Thủy tổ Cửu tộc trong đó hai vị đứng đầu là Đế Thiên, Đế Thích và
Địa Mẫu. Các vị Đế Viêm, Thần Nông, các vị vua và các bà vợ có công ở thời Bách
Việt và các vua Hùng “sinh thành nên trăm họ” đã thành mỹ tục xa xưa truyền các
thế hệ đến nay. Thành nếp sống, nếp nghĩ, phong tục tập quán, tín ngưỡng không
gì xóa nổi. Cho dù kẻ thù truyền kiếp không ngừng tìm mọi cách xóa, đánh tráo,
đốt, hủy diệt, ngăn cấm, đồng hóa, thay màu, đổi sắc, trấn yểm, bạo lực, vây
bủa, nắm tóc… Vua Quang Trung “Đánh cho để dài tóc”.
Hệ thống
tượng các ngôi chùa cổ Việt, điện Mẫu tại các làng quê tận sơn cùng, thủy tận
(đậm nét nhất là ở trung du, đồng bằng Bắc bộ, Bắc trung bộ, sang cả các vùng
phía Nam sông Dương Tử, nay là Trung Quốc, địa bàn cư trú của người Việt thời
Bách Việt) đều thờ cúng Tổ Tiên Bách Việt. Thể hiện bằng những pho tượng Tổ
Tiên được nâng lên thành Mẫu, Ngọc Hoàng Thượng đế, Tiên, Phật, Thánh, Thần.
Các ngày
sinh, ngày hóa của các vị Tổ Tiên có công được toàn dân đời đời kiếp kiếp tôn
thờ, biến thành các lễ hội, cúng lễ quanh năm.
Việc trông
nom phần mộ các vị Tổ Tiên Bách Việt có công, được các vị tộc trưởng họ Nguyễn
ở Đại Lôi (tổng Sốm) truyền đời con cháu, như truyền tế bào máu của mình cho
mãi mãi về sau. Đến thời Đinh năm 968 được Nhà nước Đinh Bộ Lĩnh chính thức
công nhận, cấp ruộng trồng lúa lấy tiền thờ cúng, mở lễ hội, chăm phần mộ và
phong Quốc công cho vị tộc trưởng Nguyễn Đức. Sự kiện này công khai tồn tại
cùng các triều đại suốt nghìn năm đến 1907. Thế kỷ XX- XXI giao cho gia đình cụ
Nguyễn Vân Tằng thuộc Vân Nội- Thanh Oai (tổng Sốm). Cụ Tằng giữ mả Tổ Tiên và
đền thờ, di chỉ, di tích, thư tịch, phả cổ, đến hơi thở cuối cùng. Suốt mấy
chục năm cuối đời, cụ Tằng đã cùng Nhóm sưu tập khảo cứu Những khám
phá mới, nhận thức mới về Nguồn gốc dân tộc Việt và nền Văn Minh Việt cổ (Sách tư liệu gần 2000 trang) công
bố thư tịch, phả cổ, bảo tồn những ngôi mộ Tổ Bách Việt.
Các nhà
nghiên cứu tiền sử trong nhóm tiên phong: Đỗ Tòng, Tạ Việt Dũng, Đỗ Văn Bình,
Đỗ Quang Hòa, Nguyễn Vân Tằng, Nguyễn Mạnh Can đã sử dụng những thành tựu khoa
học hiện đại, phương pháp nghiên cứu đa ngành, đi khảo sát, ghi chép, xác định
những địa danh, di tích, chứng tích của Tổ Tiên xa xưa qua (đình, đền, chùa,
miếu, lăng mộ, thành quách cổ, khảo cổ…) bằng bản đồ, phim ảnh, ghi lời kể của
các cụ, các vị hậu duệ trực tiếp phụng thờ, đo năng lượng sinh học, sưu tầm
những nghiên cứu của các tác giả trong, ngoài nước… trong hàng chục năm tự bỏ
công sức, tiền của để Đi Tìm Tổ Tiên Việt.
Nay Tổ Tiên
Bách Việt đã tỏa hào quang rạng rỡ dẫn dắt cháu con tiếp tục Đi Tìm Tổ
Tiên Việt.
Phần mộ cụ
Đế Hòa (Hòa Hy) (cả cụ bà) ở chùa Cực Lạc cách chùa Tây Phương mấy trăm mét
thuộc thôn Yên Lạc huyện Thạch Thất- Hà Nội ngày nay. Di vật trong chùa Cực Lạc
có tượng người đàn bà choàng áo tơi bằng đồng. Chùa Cực Lạc đã bị hỏng, mới
dựng lại. Điện thờ Thần Nông ở phía Nam chùa Cực Lạc.
Ban thờ đình
Vân Lôi, xã Bình Yên- Thạch Thất có bốn chữ “Lịch đại Đế
Vương” thờ Chủ
trưởng người Việt đầu tiên. Trước sân chùa có giếng đá ong cổ đại. Dòng họ Hòa
Hy là nhừng người Việt cổ đầu tiên đến đây. Khu đền đã bị giặc Pháp phá hủy,
nay phục dựng lại.
Khu điện thờ
Đế Viêm và các Anh Linh của Viêm Bang trong khu động Hoàng Xá ở Quốc Oai- Hà
Nội ngày nay. Tượng Đế Viêm ở chùa Vàng- Quốc Oai.
Khu di tích
vua Thần Nông ở Chương Mỹ- Hà Nội ngày nay. Mộ Thần Nông ở cánh đồng trước chùa
Trầm- Chương Mỹ. Cụm di tích chùa Trầm có tượng thờ Thần Nông.
Các khu mộ
và đền miếu thờ Đức Thánh Cả, Đức Thánh Hai ( Đế Thừa- Sở Minh Công) và gia
quyến tại vùng di tích ở Quang Lãm, Phú Lâm- Thanh Oai- Hà Nội ngày nay.
Chùa Liên
Hoa- Hồ Tây có tượng thờ ba vị liệt tổ Nguyễn Minh
Khiết (Đế Minh), Nguyễn Nghi Nhân (Đế Nghi), Nguyễn Long Cảnh (gọi là Tam phủ công đồng).
Khu di tích
mộ và chùa thờ Đế Minh và Đế Nghi ở Định Công- Hà Nội.
Mộ miếu thờ
Thần Long Đỗ ở số 3- Ngõ Gạch- Hoàn Kiếm- Hà Nội.
Khu gò Thiềm
Thừ, khu miếu mộ cụ Đỗ Quý Thị- Hương Vân Cái Bồ Tát tại chùa Văn La và khu Ba
La- Hà Đông- Hà Nội ngày nay đã được tôn tạo bảo tồn.
Điện thờ
trong Động Tiên ở Lạc Thủy- Hòa Bình, nơi cụ Đỗ Thị Ngoan (Đỗ Quý Thị- Mẫu
Hương Vân Cái Bồ Tát) tu hành.
Tượng cụ Đỗ
Quý Thị Hương Vân Cái Bồ Tát và Nguyễn Lộc Tục bé thơ (Kinh Dương Vương) tại
chùa Văn La- Hà Đông.
Cây bồ đề
đại thụ hàng ngàn năm tuổi tại cổng chùa Văn La- Hà Đông.
Bộ tượng Bát
Bộ Kim Cương hoành tráng, mỗi người một loại vũ khí trấn giữ Đất Nước tại chùa
Tây Phương.
Đình Nghi
Tàm, chùa Kim Liên ở Hồ Tây có bia và bài vị thờ Đế Minh (Nguyễn Minh Khiết, Đế
Nghi (Nguyễn Nghi Nhân), Nguyễn Long Cảnh và Hương Vân Cái Bồ Tát, Kinh Dương
Vương.
Trong bộ ảnh
do nhóm sưu tập nghiên cứu thời tiền sử chụp và đo năng lượng, chúng tôi luôn
thấy bóng dáng cụ Nguyễn Vân Tằng, trưởng tộc họ Nguyễn thôn Vân Nội (tổng Sốm)
vạch cỏ, rẽ cây thắp khói nhang trên các ngôi mộ Tổ Tiên hoang vắng, nhưng phát
linh bề thế, cao rộng, vững chãi. Lời cụ Tằng “Ai tàn phá
mộ Tổ Tiên đều bị chết”.
Mộ Tổ Đức
Thánh Tổ Nguyễn Lộc Tục- Kinh Dương Vương được kỹ sư Tạ Việt Dũng đo năng lượng
bản chất “Thiên khí, Thái dương”. Đền thờ Kinh Dương Vương ở Thuận
Thành- Bắc Ninh theo Thần phả ghi là “Lăng Đền”, không nói là “Lăng Mộ”.
Khu mộ Mẫu
Thượng Ngàn tại vùng Ba La- Hà Đông năm 2008 còn chụp ảnh được, um tùm cây cổ
thụ, có dấu xây bệ thờ, nay vừa bị san phẳng xây dự án chồng lấp. Cụ Tằng chụp
ảnh trước ngôi mộ Mẫu Thường Ngàn bị san lấp, ngẩn ngơ, đau đớn và kinh sợ thay
cho những ai xóa mộ Tổ Tiên.
Theo Nhóm
nghiên cứu tiền sử, các vị Tiền Tổ Bách Việt là Tổ của Bách Việt chủ trì cả một
cương vực rộng lớn Bách Việt từ phương Bắc xuống phương Nam. Một phần trong các
cư dân Bách Việt đó đã bị chinh phục, đồng hóa. Còn một số bộ tộc thuộc dòng dõi
Âu Việt, Lạc Việt ở phía Nam Bách Việt tồn tại kiên cưởng, bất khuất, lập nên
Nhà nước Quốc hiệu Văn Lang do các thế hệ mang tên là Hùng Vương đương đầu.
Thư tịch cũ
ghi Kinh Dương Vương là Ốc Tổ Bách Việt là Thánh Tổ bắt đầu mười tám triều đại Hùng mà Hùng
Hiển Vương (tức Sùng Lãm- Lạc Long Quân) đứng đầu. Hùng Hiển Vương và Âu Cơ với
cái bọc “Một trăm trứng” sinh ra một trăm đời Hùng về sau.
Phả cổ ghi:
Mở đầu Nam Việt có Kinh Dương Thống nhất non sông mười
tám vương Trên một trăm đời truyền ngôi báu Vạn năm hương hỏa, vạn năm thơm
Làng cổ Bình
Đà- Thanh Oai có Đình Nội thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân. Mộ Lạc Long Quân linh khí
phát thiêng, hoành tráng nổi lên giữa một vùng đồng lúa gọi là Ba Gò (Gò Ba
Đống) cách Đền Nội vài cây số, đang được UBND thành phố Hà Nội bảo tồn tôn tạo
linh tích báu Quốc gia. Kỹ sư Tạ Việt Dũng đo năng lượng “Vận động
sóng mạnh, Thiên khí, Thái Dương, vận khí nhân tài, khoa học, quân sự, trí tuệ,
tâm hồn”.
Tổ Mẫu Âu Cơ
vợ Lạc Long Quân là người hiền đức, kế nghiệp mẹ chồng Hồng Đăng Ngàn (cùng ở
Động Đình Hồ về Phong Châu) dạy dân nuôi tằm, dệt vải, chăm sóc các gia đình
binh lính theo Lạc Long Quân đi dẹp giặc nội, ngoại xâm, nên dân gọi bà là Bà
Chúa Lính. Bà mất ngày mồng 5 tháng 5 Âm lịch. Mỗi làng cúng một ngày kéo dài
đến 20 tháng 5 gọi là Tiết (Tết) Đoan Ngọ.
Mộ Tổ Mẫu Âu
Cơ ở chùa Tường Quang Tự thôn Thượng Mạo- Động Lãm- Thanh Oai- Hà Nội ngày nay.
Kỹ sư địa chất TạViệt Dũng đo năng lượng “Thái âm, Địa khí, sóng rất mạnh về
giáo dục, khoa học”.
Liệt Tổ Hùng
Quốc Vương và các đời sau đến hết thời nhà Hùng ở vùng tổng Sốm- Thanh Oai còn
nhiều dấu tích, đình, đền, miếu chùa, mộ, giếng nước cổ.
Câu đối đình
Do Lộ xã Yên Nghĩa- Thanh Oai- Hà Nội ghi, Viện Hán Nôm dịch: 1.
1. Đây là một trong 72 ngôi đền ở Trời Nam, lưu lại dấu
thiêng của vua Hùng, nhiều đời phong tặng rạng rỡ điển chương. 2.
2. Đây là nơi phân ra ba nhánh sông Hát xưa, đất đẹp
kỳ quan, rạng rỡ ngàn năm ghi dấu Hồng Lạc.
Hùng Quốc
Vương (Nguyễn Lãm) con trưởng Lạc Long Quân thay cha làm vua nước Văn Lang, dạy
dân cày cấy, đánh cá, đúc đồng và truyền nối dòng họ Hùng Vương các đời sau.
Với những
chứng tích phát hiện và sưu tập, nhóm nghiên cứu tiền sử nhận định Trung tâm
định đô của các thế hệ Hùng Vương là ở các vùng Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ
(thời trước Kinh Dương Vương). Từ Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân đến triều
cuối nhà Hùng Quốc hiệu Văn Lang phần lớn đều tập trung ở vùng đất Thanh Oai- Hà Nội
ngày nay, sau đó lên Phú Thọ và các vùng khác.
Vùng đất
Thanh Oai là nơi Cao Biền quan tâm trấn yểm nhiều nhất để triệt hạ vùng Đại
Long Mạch của nước ta. Thanh Oai, nơi mà dân ta coi là nơi tụ khí thiêng sông
núi, nơi phát sinh những hiền tài của Đất Nước, nên Cao Biền đã trấn yểm và
viết sách báo về vua Trung Quốc như sau:
Thứ nhất Đất Thanh Oai:
“Trong ấp Thanh Oai hình thế rất lạ/ Thủy vượng bốn
phương, án phát tam quy/ Mạch kết bên hữu, khí dụng phía tả/ Thần đồng đứng
trước, quỷ sứ nối sau/ Bảng vàng sớm chiếm, phúc lộc dồi dào/ Nên phòng mạch
tận, không con nối dòng”.
Thứ hai Đất Cao Xá:
“Thanh Oai Cáo Xá, thật có quý địa/ Nước khe theo mạch
về nơi đất bằng/ Hoa nở bên Bạch Hổ, sao hiện bên Thanh Long/ Sơn thủy dồi dào,
khí thế sung mãn/ Cần gì hợp biểu, ngưu giác loan cung/ Chủ khách đều tốt, tả
hữu một lòng/ Lòng hoa rộng mở, thế phát anh hùng/ Văn chiếm đầu bảng, võ chiếm
nguyên nhung/ Sống lâu phú quý, lập nhiều kỳ công”.
Càng Đi Tìm Tổ
Tiên Việt chúng ta
càng phát hiện những tri thức, tài năng lớn của Tổ Tiên Bách Việt đã khai mở và
xây dựng nền Văn Minh Lúa Nước Sông Hồng đầu tiên của Nhân loại là huyết mạch
nối tiếp các thế hệ người Việt hôm nay và mai sau để bảo tồn nòi giống, bảo vệ
và giữ gìn Đất Nước Giống Nòi trường tồn.
Mong Nhà
nước Việt Nam kịp thời khoanh vùng, bảo tồn các dấu tích linh thiêng của Tổ
Tiên ta đã và đang được phát hiện, trước tình hình xây dựng, khai phá núi sông,
đồng đất như vũ bão hiện nay. Kẻ thù truyền kiếp mấy ngàn năm nay không hủy
diệt nổi Đất Nước mà Tổ Tiên đổ máu xương trao lại cho chúng ta. Lẽ nào chính
ta lại tàn hại Đất- Nước- Người cùng sinh ra từ huyết thống Mẹ Âu Cơ?
Hồ Gươm Xuân 2014.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét