Bách Việt trùng cửu – nguồn http://báchviệt18.vn/
Năm
1398 Chu Nguyên Chương, người đã đánh đuổi quân Mông Cổ ra khỏi Trung
Hoa và thống nhất lại đất nước này, qua đời. Cháu nội ông là Chu Doãn
Văn lên nối ngôi, lấy niên hiệu là Kiến Văn. Thế nhưng chỉ sau đó vài
năm, năm 1402, một trong những thân vương thế lực nhất là Yên Vương Chu
Đệ đã nổi dậy, tiến quân từ Bắc Bình (Bắc Kinh ngày nay) xuống Nam Kinh
(Giang Tô), đoạt ngôi của Chu Doãn Văn. Phủ Ứng Thiên ở Nam Kinh bốc
cháy, nhưng Chu Doãn Văn không chết mà thay hình đổi dạng, mai danh biệt
tích. Chu Đệ cướp ngôi của Chu Doãn Văn, lấy hiệu là Vĩnh Lạc, được gọi
là Minh Thành Tổ.
Minh
Thái Tổ Chu Nguyên Chương là người Hoa chính gốc nên triều Hồng Vũ của
ông ta là một triều đại Trung Hoa chính thống. Tuy nhiên triều đại của
Chu Đệ thì lại khác. Cho dù Chu Đệ cố gắng khẳng định mình là con của
Chu Nguyên Chương và Mã Hoàng hậu nhưng nghi án về nguồn gốc của Minh
Thành Tổ vẫn cứ tồn tại đã hơn 600 năm nay. Theo những nguồn tư liệu
khác nhau thì Chu Đệ là con của một cung phi người Cao Ly hoặc người
Mông Cổ, đã “đẻ non” sau khi vào cung của Chu Nguyên Chương. Nói cách
khác, Chu Đệ không hề mang dòng máu Trung Hoa đích thực nào, mà bản chất
là người phương Bắc.
Hành
động của Chu Đệ thể hiện khá rõ việc này. Ngay sau khi lên ngôi Chu Đệ
lập tức tuyên bố dùng Bắc Bình làm Bắc Kinh, rồi lập ra sáu bộ làm việc ở
đó. Bắc Bình là kinh đô của nhà Kim, sau đó tới nhà Nguyên (người Mông
Cổ). Sau một thời gian xây dựng cung điện và nhiều lần trú ngụ lâu dài ở
Bắc Kinh, tới năm Vĩnh Lạc thứ mười tám (1420) Chu Đệ hạ lệnh lấy Bắc
Kinh làm kinh sư, chính thức dời đô lên phía Bắc. Rời bỏ Nam Kinh, vùng
đất của người Hoa (nhà Nguyên gọi là người Nam) chuyển lên Bắc Kinh,
vùng đất người Hán, người Kim là một bằng chứng cho thấy bản chất triều
đại của Chu Đệ không còn là Trung Hoa nữa.
Việc
sau này Chu Đệ có miếu hiệu là Thành Tổ cũng cho thấy triều đại nhà Minh
từ Chu Đệ không còn là triều đại như thời Chu Nguyên Chương nữa vì một
triều đại không thể có tới 2 vị tổ.
Điều
đáng nói là Minh Thành Tổ ngay sau khi lên ngôi đã cho biên soạn lại các
sử sách Trung Hoa theo ý đồ riêng của mình. Điển hình là bộ Thái Tổ
thực lục, vốn là ghi chép thực sử của thời Hồng Vũ (thời của Chu Nguyên
Chương), đã bị sửa lên sửa xuống, tới lần thứ ba Chu Đệ mới “tạm yên
lòng”. Sửa chữa lại những điều ghi chép thực phải chăng muốn che đậy sự
thực về xuất xứ và tính kế thừa chính thống triều đại của Chu Đệ?
Đặc
biệt từ năm 1405 – 1408 Minh Thành Tổ đã cho triệu tập hàng trăm học sĩ
do Giải Tấn cầm đầu thu thập sách vở trong thiên hạ để biên soạn bộ Vĩnh
Lạc đại điển, trong đó phần ghi chép lịch sử chiếm một vị trí đáng kể.
Có lẽ đây là một trong những cơn “bão nạn” mà lịch sử Trung Hoa đã bị
nhào nặn, sửa đổi theo ý đồ của người phương Bắc. Sau khi trùng tu Thái
Tổ thực lục, biên soạn Vĩnh Lạc đại điển, Tổng tài Giải Tấn bị vu tội
“không biết giữ lễ bề tôi”, rồi bị ép chết trong ngục. Nguyên nhân sâu
xa của cái chết này rất có thể là nhằm “giết người diệt khẩu”, che đậy
việc cạo sửa sử sách dưới thời Minh Thành Tổ.
Chỉ
sau 4 năm lên ngôi, năm 1406 Minh Thành Tổ cho quân tấn công nước Đại
Ngu của Hồ Quý Ly. Trong đạo sắc 10 điều của Minh Thành Tổ đề ngày 8
tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21/8/1406) gửi viên tướng viễn chinh Chu
Năng trên đường y cất quân sang Đại Việt có một điều thứ tư rất đáng chú
ý: “Hỏi xem cột đồng trụ hiện dựng ở đâu, phải đập cho nát và ném ra
ngoài đường, để cho người trong nước đều trông thấy” (theo Việt kiệu
thư).
Đây
không phải là việc “tiện thể hỏi chơi” mà thực tình Minh Thành Tổ coi là
một việc hệ trọng vì trong những sắc chỉ ban bố một năm sau đó, ông ta
còn nhắc lại điều này (điều ghi thêm thứ hai trong Sắc chỉ đề ngày 9
tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 5). Cột đồng được xem là một bằng chứng
“chinh phục” tiếng tăm của Mã Viện thời Đông Hán, ấy thế mà vua Minh lại
bắt phá đi. Việc này là thế nào?
Có
thể thấy ý nghĩa của cột đồng không hề là điều “sỉ nhục” khi mất nước,
trái lại đó là niềm tự hào của người Việt, là mốc giới phân Nam Bắc mà
giặc phương Bắc đã không thể vượt qua. Chính Mã Viện cũng muốn đập gãy
cột đồng để chinh phục Giao Chỉ mà không thành (trong câu “Đồng trụ
chiết, Giao Chỉ diệt”). Minh Thành Tổ cho phá bỏ cột đồng tức là phá đi
đường biên giới đã xác lập này, thực hiện việc xâm chiếm An Nam, sát
nhập thành quận huyện của nhà Minh.
Cũng
ngay khi mới tiến quân vào nước Nam, Minh Thành Tổ còn bí mật căn dặn
quân lính: “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in
của đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy; ngoài ra hết thảy mọi sách vở
văn tự, cho đến cả những loại [sách] ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ,
như loại sách có câu “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều
phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa
đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá
sạch hết thảy, một mảnh một chữ chớ để còn” (Sắc chỉ bí mật, ban bố 10
điều cho quân lính tuân theo, xếp thứ tự ngay sau đạo sắc đề ngày 4
tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4. Việt kiệu thư).
Một
năm sau, lệnh này lại được nhắc lại một cách nghiêm khắc hơn nữa: “Nhiều
lần đã bảo các ngươi rằng phàm An Nam có tất thảy những sách vở văn tự
gì, kể cả các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ, như loại “Thượng đại
nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết, và tất thảy các
bia mà xứ ấy dựng lên thì một mảnh một chữ hễ trông thấy là phá hủy lập
tức, chớ để sót lại. Nay nghe nói những sách vở do quân lính bắt được,
không ra lệnh đốt ngay, lại để xem xét rồi mới đốt. Quân lính phần đông
không biết chữ, nếu đâu đâu cũng đều làm vậy thì khi đài tải sẽ mất mát
nhiều. Từ nay các ngươi phải làm đúng như lời sắc trước, truyền cho quân
lính hễ thấy sách vở văn tự ở bất kỳ nơi nào là phải đốt ngay, không
được lưu lại” (Điều khoản bổ sung vào sắc chỉ đề ngày 21 tháng Năm năm
Vĩnh Lạc thứ 5. Việt kiệu thư).
Một
tấm bia cũng phải phá lập tức, một mảnh chữ cũng không để còn… Đây không
chỉ là thủ đoạn nhằm tiêu diệt nền văn hóa bản địa ở Giao Chỉ. Sâu xa
hơn những hành động triệt phá này là nhằm xóa bỏ tất cả các chứng cứ
lịch sử còn lưu lại ở đây. Tại sao Minh Thành Tổ phải hành động quyết
liệt như vậy? Và tại sao hành động này lại phải làm một cách bí mật,
không để cho người Việt biết, như thể hiện trong sắc chỉ sau:
“Nay
An Nam đã bình định xong; [...] trừ các loại chế dụ ra còn thì tất cả
các đạo sắc viết tay và các ký sự thư thiếp, đã từng phát đi từ trước,
cùng với sổ ghi chép mà Thành quốc công đã lĩnh, hoặc các thứ [sổ sách]
trù nghị mọi việc, đều phải đem toàn số kiểm kê, đối chiếu, niêm phong
cẩn mật, gửi trả lại, không cho lưu lại một chữ. Nếu có một chữ bỏ lại,
rơi vào tay bọn kia thì rất bất tiện” (Sắc chỉ đề ngày 19 tháng Năm năm
Vĩnh Lạc thứ 5. Việt kiệu thư).
Minh
Thành Tổ vừa xóa bỏ những dấu vết lịch sử ở nước Nam, vừa che dấu hành
động của mình, rõ ràng là một ý đồ thâm độc, có tính toán đầy đủ. Lịch
sử An Nam quan trọng thế nào đối với một ông vua nhà Minh mà phải triệt
hạ bí mật như vậy? Điều này sẽ trở nên rõ ràng khi nhận ra lịch sử vùng
đất Giao Chỉ – Đại Việt là lịch sử vùng đất tổ của Trung Hoa. Trong khi
Chu Đệ, đứa con hoang người phương Bắc, muốn đánh lẫn trắng đen, nhập
nhèm Hoa Hán, chiếm đất chưa đủ, mà muốn sang đoạt luôn cả lịch sử, tổ
tiên của người Hoa Việt.
Năm
1407 giặc Minh chiếm được Đại Ngu, sát nhập thành quận Giao Chỉ. Tứ đại
khí An Nam là 4 bảo vật đồ đồng gồm Tượng Phật chùa Quỳnh Lâm, Tháp Báo
Thiên, Chuông Quy Điền và Vạc Phổ Minh đã bị đập nát, nấu chảy. Hành
động này so với việc Mã Viện thời Đông Hán gom hết trống đồng của người
Việt về đúc thành ngựa thì về bản chất là như nhau. Không phải quân Minh
thiếu đồng để làm vũ khí khi đánh nhau với quân khởi nghĩa của Lê Lợi.
Đây là hành động có chủ ý trước nhằm triệt tiêu những chứng tích văn
hóa, lịch sử Việt. Chắc chắn trên tứ đại khí An Nam đều có minh văn, mà
theo như mật lệnh của Minh Thành Tổ thì “một mảnh chữ chớ để còn”… Có lẽ
4 bảo vật trên đã bị phá trong thời gian ngắn ngay sau khi quân Minh
chiếm được Giao Chỉ, chứ không phải đợi đến lúc Lê Lợi tấn công ra Bắc
mười năm sau đó.
Năm
1427 khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã giải phóng Giao Chỉ khỏi ách thống
trị của giặc Minh. Từ đống tro tàn đổ nát mà quân Minh để lại, sẽ không
là lạ khi các sử thần thời Lê vô cùng lúng túng khi tiến hành biên sử
nước nhà. Nguồn tư liệu thư tịch gốc trên đất Việt là các văn thư, bia
đá đã bị giặc Minh thủ tiêu. Nguồn tư liệu ở “nước ngoài” lúc này là
Vĩnh Lạc đại điển, là thứ đồ đã bị cố ý cạo sửa. Lịch sử mấy ngàn năm
của người Việt dựa vào gì để viết đây?
Không
có nguồn thư tịch tin cậy để khảo cứu các sử thần nhà Lê biên soạn Đại
Việt sử ký toàn thư chắc chắn đã phải dựa vào các truyền thuyết lưu
truyền trong dân gian Việt để chép sử. Bằng chứng là rất nhiều thời kỳ
của sử Việt được chép nhưng không hề thấy có lưu trong các thư tịch cổ
của Trung Hoa. Đó là chuyện của cả thời Tiền Lý từ Lý Bôn, Lý Phật Tử
tới Triệu Quang Phục. Đó là thời kỳ 12 sứ quân ở đất Tĩnh Hải mà không
hề được các sử sách đương thời của Trung Hoa nhắc tới…
Những
chuyện có được Hoa sử ghi chép lại thì cũng không hoàn toàn giống như
những gì truyền thuyết Việt kể. Sự vênh lệch này cứ vậy mà tồn tại mãi
tới nay, vì các sử gia Việt đời sau dựa vào đời trước mà chép, sự biện
luận, chỉnh lý không có được bao nhiêu. Những mâu thuẫn trong sử Việt
ngày càng khó giải thích khi dòng thời gian trôi qua, lịch sử càng xa
hơn, lâu hơn để có thể minh chứng, tìm lại đúng cơn nguyên ban đầu… Lối
mòn trong chép sử hình thành, rồi đã trở thành “đại lộ” chính sử, làm
cho không ai nghi ngờ gì về tính chân xác của bộ sử đã viết nên sau đống
đổ nát mà giặc Minh để lại. Nhưng thời gian cũng là “thước ngọc”, sự
thực sớm muộn cũng phải lộ ra, cho dù Minh Thành Tổ rồi Càn Long có cố ý
chế biến lịch sử Trung Hoa tới mức nào…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét