Bách Việt trùng cửu – nguồn http://báchviệt18.vn
Nhà
“thiên di học” Tạ Đức phát triển ý kiến của học giả Pháp Anrousseau và
Đào Duy Anh đã đưa ra thuyết về Nguồn gốc người Việt người Mường, mà
phần chủ yếu là về nguồn gốc của nước Văn Lang và Âu Lạc. Giả thuyết của
Tạ Đức tóm tắt chính trong 3 hướng thiên di như sau:
1.
Năm 690 TCN nước Sở thôn tính nước La có kinh đô ở Nghi Thành, Hồ Bắc.
Hoàng tộc Lạc Việt (La) di tản khắp bốn phương, lập ra các nước/các
triều đại mới của người Lạc Việt. Trong khoảng 690 – 682 TCN một nhóm
hoàng tộc Lạc Việt họ Hùng đã tới tận vùng lưu vực sông Hồng, quy tụ các
nhóm Mường bản địa, dựng nên nước Văn Lang, nhà nước đầu tiên ở Việt
Nam.
2.
Một nhóm hoàng tộc La khác xuôi dòng Dương Tử về Chiết Giang, dựng nên
nước Ư Việt. Nước Ư Việt trở thành một nước mạnh từ cuối thời Xuân Thu,
đến năm 333 TCN bị nước Sở thôn tính, hoàng tộc Ư Việt lại di tản về
phương Nam, lập ra các nước mới, đầu tiên là Mân Việt ở Phúc Kiến, sau
đó tiến tiếp xuống hòa nhập với nước Văn Lang ở Quảng Tây.
3.
Một nhóm hoàng tộc La khác lại ngược dòng Dương Tử tới Tứ Xuyên, lập ra
triều Khai Minh nước Thục. Khi Tần diệt nước Thục và nước Ba, hoàng tộc
Thục di tản tới Quý Châu, giành được vương quyền của nước Dạ Lang. Năm
257 TCN cha của Thục Phán đánh chiếm nước La Bạc ở Quảng Tây. Tiếp đó
Thục Phán lãnh đạo người Tây Âu ở Quảng Tây – Vân Nam và Lạc Việt chống
Tần. Tới năm 207 TCN sau khi Tần Thủy Hoàng mất Thục Phán thôn tính nốt
nước Văn Lang ở đồng bằng sông Hồng, trở thành vua nước Âu Lạc là An
Dương Vương.
Giả
thuyết của Tạ Đức nghe qua có vẻ hợp lý, nhất là khi tác giả dẫn nhiều
tư liệu khảo cổ học cho thấy mối liên hệ cội nguồn giữa văn hóa Đông Sơn
với các khu vực Điền (Vân Nam), Dạ Lang (Quý Châu), Thục (Tứ Xuyên),
Quảng Tây, Hồ Nam và Phúc Kiến, Chiết Giang. Tuy nhiên, sự tương đồng
trong khảo cổ của văn hóa Đông Sơn với một vùng rộng lớn ở Nam Dương Tử
còn có thể do nguyên nhân khác. Người Việt không cần tới “thiên di” để
làm nên văn hóa văn minh. Văn hóa Đông Sơn có liên hệ nguồn cội với
nhiều khu vực ở Hoa Nam bởi vì… toàn bộ khu vực này vốn là một “thiên
hạ” chung dưới thời nhà Chu, kéo dài gần 1.000 năm, mà trong đó Văn Lang
chính là đất lập quốc của Văn Vương, vị vua khởi đầu của nhà Chu.
THIÊN DI, NHỮNG MÂU THUẪN
Tạ
Đức dựa vào tài liệu của các học giả Trung Quốc để vẽ nên nguồn gốc, vị
trí và hướng thiên di của người La. Có điều, việc này tiềm ẩn nhiều sai
lầm khi lập thuyết mà không dựa vào tư liệu gốc, lại dựa trên các tài
liệu, nhận xét của những tác giả đời nay. Ví dụ, Tạ Đức viết: “Lưu Nham
(1999) và Hà Quang Nhạc (2005) dẫn tư liệu thư tịch cho biết: nước La có
từ thời Hạ, gốc ở Tân Trịnh (Trung Hà Nam), sau rời đến La Sơn (Nam Hà
Nam)…”. Không cần phải có kiến thức cao siêu gì lắm cũng có thể thấy
chẳng có thư tịch cổ nào nói nước La ở Tân Trịnh (Trung Hà Nam) và La
Sơn (Nam Hà Nam) cả, đơn giản là vì vào thời Hạ Thương Chu thì những địa
danh này còn chưa hề tồn tại. Định vị nước La ở những chỗ trên chỉ là
suy đoán, nếu không nói là gán ghép, của các tác giả Trung Quốc.
Người
La có nguồn gốc từ nhà Hạ… Nhưng nhà Hạ ở chỗ nào thì các tác giả còn
đang rất lẫn lộn. Lúc là ở Nhị Lý Đầu ở Hà Nam. Lúc là văn hóa Lương Chử
ở Chiết Giang. Nhà Hạ, khi con người còn đang ở thời kỳ đồ đá, không
nhẽ lại có phạm vi mênh mông từ Chiết Giang, Giang Tô, sang cả Hà Nam?
“Văn hóa Hạ” ở đâu còn chưa xác định thì làm sao có thể kết luận những
di chỉ như ở Lão Ngưu Pha (Thiểm Tây) hay Nghi Thành (Hồ Bắc) là của con
cháu nhà Hạ (người La)?
Việc
cho rằng một nhóm người La sau khi bị Sở đánh chạy sang hướng Đông lập
nên nước Ư Việt là không đúng với sử sách ghi chép về nước Việt này. Sử
ký Tư Mã Thiên, Việt Vương Câu Tiễn thế gia ghi rõ: “Tổ tiên của Việt
Vương Câu Tiễn là dòng dõi vua Vũ, con thứ hai của vua Thiếu Khang đời
nhà Hạ, được phong ở đất Cối Kê để lo việc phụng thờ vua Vũ, xăm mình,
cắt tóc, phát cỏ mà lập ấp.”
Nước
Việt thời Chu, hay Ư Việt (gọi theo Tạ Đức) như thế là nước có từ thời
Hạ Thiếu Khang, đâu cần phải tới thời Đông Chu mới hình thành. Lịch sử
nước Việt này cũng không chép chuyện “thiên di” nào cả. Truyện chim bạch
trĩ với sứ giả Việt Thường gặp Chu Công cho thấy rõ, nước Việt con cháu
nhà Hạ ở cửa sông Dương Tử, cạnh biển, đã tồn tại từ đầu nhà Chu (thời
Tây Chu).
Để
xác định chuyện người La thiên di tới sông Hồng, lập nên nước Văn Lang,
các tác giả của thuyết thiên di dựa vào mấy dòng mở đầu của Việt sử
lược: Đến thời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo
thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn
Lang.
Việt
sử lược là cuốn sách khuyết danh tìm thấy ở bên Tàu thời nhà Nguyên. Kẻ
đã 3 lần định xóa sổ Đại Việt mà viết sử nước Việt thì liệu có bao nhiêu
% đáng tin? Thời điểm đầu thế kỷ 7 trước Công nguyên (thời Chu Trang
Vương) cho việc lập quốc Văn Lang hoàn toàn trái với tất cả các truyền
thuyết Việt kể rằng nước Văn Lang do mẹ Âu Cơ lập nên, chí ít cũng từ
3.000 năm trước, nếu không phải là 4.000 năm…
Rất
có thể Trang = Tlang hay Lang. Trang Vương có nghĩa tương tự như Hùng
Vương mà thôi (Hùng – Tráng). Nếu vậy thì đoạn chép trên của Việt sử
lược sẽ thành “Đến thời Hùng Vương ở bộ Gia Ninh có người lạ dùng ảo
thuật …”. Xét thế thì thời điểm ra đời của nước Văn Lang hoàn toàn không
phải vào quãng 698 – 691 TCN.
Còn
“người lạ dùng ảo thuật” ở bộ Gia Ninh không phải là người “xa lạ”, di
cư từ nơi khác đến. Theo Giao Châu ký của Lỗ Công, được chép trong
Truyện núi Tản Viên: “Đại vương Sơn Tinh họ Nguyễn, cùng vui với loài
thủy tộc ở đất Gia Ninh, huyện Phong Châu“. Người lạ có phép ảo thuật ở
đây chính là Tản Viên Sơn Thánh.
Tản
Viên Sơn Thánh được người Việt thờ là vị thần tối linh, đứng đầu Tứ bất
tử nước Nam. Phép “ảo thuật” của Tản Viên được biết là cây gậy đầu sinh
đầu tử và cuốn sách ước được Long Vương tặng. Suy rộng ra thì gậy thần
sách ước biết sinh tử – âm dương, đo vẽ được cả đất trời của Tản Viên
chính là Hà thư Lạc đồ, là kiến thức khoa học của người Việt ở thủa bình
mình của dân tộc.
Tản
Viên là vị thần đứng đầu trong ba vị (Ba Vì): Tản Viên Nguyễn Tuấn, Hiển
Công Quý Minh, Sùng Công Cao Sơn. Ba Vì tức là 3 bộ tộc thời lập quốc
đã kết hợp cùng nhau theo Tản Viên trị thủy. Tiếp đó với việc Sơn Thánh
“cùng vui với các loài thủy tộc” hay Kinh Dương Vương lấy con gái Thần
Long Động Đình thì bộ tộc phía Đông dòng Thần Long cũng đã kết hợp nốt,
đủ 4 phương hội tụ, bắt đầu lịch sử của người Việt. Tản Viên Sơn Thánh
mới là người lạ có phép ảo thuật ở bộ Gia Ninh đã áp phục các được các
bộ lạc mà lập quốc như Việt sử lược chép.
Ý
kiến cho rằng Thục Phán là dòng dõi Khai Minh nhà Thục ở Tứ Xuyên hoàn
toàn không có cơ sở vì theo Thục vương bản kỷ Tần đã bức tử vị Thục hầu
cuối cùng của nhà Khai Minh. Làm gì còn “hoàng tộc” Thục nào nữa mà
thiên di xuống phía Nam.
Còn
chuyện Thục Phán lãnh đạo người Tây Âu, Lạc Việt kháng Tần những năm 216
– 207 TCN thì càng vô lý. Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ
chép: Năm thứ 33 (năm 216 TCN), Thủy Hoàng đưa những người thường trốn
tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương,
lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy
canh giữ. Năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đã lập quận huyện đầy đủ ở đất
Việt rồi, còn nước nào ở đây nữa mà có Thục An Dương Vương?
Đại
Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN], (Tần Nhị Thế
năm thứ 3). Vua (Triệu Đà) chiếm lấy đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập
làm Nam Việt Vương. Tới năm 207 TCN Triệu Đà đã chiếm lại cả 3 quận mà
Tần lập ra trên đất Việt. Vậy thử hỏi còn thời gian nào ở quãng giữa năm
216 đến 207 TCN để cho Thục Phán làm vua nước Âu Lạc và xây thành Cổ
Loa?
MỘT KIẾN GIẢI KHÁC
Truyền
thuyết họ Hồng Bàng về sự hình thành nước Văn Lang kể Lạc Long Quân lấy
Âu Cơ, sinh ra trăm người con trai. Do “thủy hỏa tương khắc” nên Lạc
Long Quân dẫn 50 người con về thủy phủ chia trị các xứ. Âu Cơ và 50
người con lên ở đất Phong Châu, suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả
lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, Đông giáp
Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Bắc tới Động Đình hồ, Nam tới nước Hồ Tôn.
Khi
vẽ cương vực của nước Văn Lang trong truyền thuyết lên bản đồ thì thấy
rõ các khu vực Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây và một phần Hồ Nam đều nằm
trong phạm vi nước Văn Lang. Vì thế hoàn toàn dễ hiểu sự liên hệ cội
nguồn của văn hóa Đông Sơn với Điền (Vân Nam), Dạ Lang (Quý Châu) do
những khu vực này đều là đất của Văn Lang. Mối liên hệ này có từ sớm,
sớm hơn nhiều so với thời “Trang Vương nhà Chu” vào đầu thế kỷ 7 TCN.
Truyện
Rùa vàng về sự hình thành của nước Âu Lạc kể Vua An Dương Vương nước Âu
Lạc là người Ba Thục, họ Thục tên Phán. Nhân vì tổ phụ ngày trước cầu
hôn lấy Mỵ Nương là con gái vua Hùng Vương, Hùng Vương không gả cho, bèn
mang oán. Phán muốn hoàn thành chí người trước, cử binh đi đánh Hùng
Vương, diệt nước Văn Lang, cải tên nước là Âu Lạc, rồi lên làm vua, xây
thành ở đất Việt Thường…
Hai
truyền thuyết về sự hình thành nước Văn Lang (Truyền thuyết họ Hồng
Bàng) và Âu Lạc (Truyện Rùa vàng) xét kỹ thì chỉ là một chuyện vì:
- Âu Cơ lấy Lạc Long Quân thì tên nước phải là Âu – Lạc, tức là nước do Thục Phán lập nên.
- Âu
Cơ và Lạc Long Quân “thủy hỏa tương khắc” là chuyện “tổ phụ” của Thục An
Dương Vương “cầu hôn Mỵ Nương không được mà mang oán”, từ đó dẫn đến sự
chia tách 2 dòng Hùng – Thục hay Âu – Lạc.
Nước
của Lạc Long Quân đã biết là nước Xích Quỷ ở vùng ven biển. Còn nước Văn
Lang là nước do dòng theo mẹ Âu Cơ lập nên ở Phong Châu. Hai nước này
như vậy cách nhau cả nghìn năm chứ không tồn tại cùng một lúc. Tức là
dòng Âu Cơ đã đánh thắng dòng Lạc Long mà lập nên nước Văn Lang, tương
tự chuyện Thục Phán đánh Hùng Vương lập nên nước Âu Lạc.
Theo
thần tích Việt thì Âu Cơ quê ở động Lăng Xương (Thanh Thủy, Phú Thọ). Âu
Cơ ở Lăng Xương tức là … Cơ Xương từ vùng đất Âu. Cơ Xương là tên của
Chu Văn Vương, ban đầu là Tây Bá hầu của nhà Ân Thương. Cơ Xương khởi
nghiệp đóng đô ở đất Phong. Văn Vương ở đất Phong là nước Văn Lang ở
Phong Châu. Nghĩa của từ Văn Lang là vua Văn, tức là Cơ Xương, rất rõ
ràng, không cần phải suy luận, liên hệ ngôn ngữ gì cả. Mẹ Âu Cơ lập nước
Văn Lang chính là Văn Vương Cơ Xương.
Lang
Văn Cơ Xương nổi lên ở phía Tây nên còn gọi là Thục vì Thục là từ khác
chỉ hướng Tây. Đất Ba Thục hay đất của Tây Bá hầu là đất Âu, đất gốc tổ
của họ Cơ nhà Chu ở Quý Châu. Thư tịch cũ (Cựu Đường thư, Thái Bình hoàn
vũ) cũng cho biết “Quý Châu là đất Tây Âu, Lạc Việt”. Thục An Dương
Vương chính là Lang Văn Cơ Xương.
Văn
Lang và Âu Lạc như vậy chỉ là 2 tên gọi của cùng một nước. Văn Lang là
gọi theo tên vua Văn. Âu Lạc là gọi theo tên 2 vùng đất hay 2 dòng tộc
Lạc Long – Âu Cơ hợp nhất thời Lang Văn.
Chuyện
Thục Phán đánh Hùng Vương là cách kể khác của sự kiện Cơ Phát, con của
Văn Vương Cơ Xương đã phát động các chư hầu đánh Trụ diệt Ân. Sự kiện
này trong truyền thuyết Việt bị chép lẫn với việc Tần (Chiêu Tương
Vương) từ đất Xuyên Thục diệt nước Văn Lang của nhà Chu (Noãn Vương) năm
256 TCN. Ở cả 2 sự kiện này Thục Phán và Tần đều xuất phát từ phía Tây
(Thục) đánh nước ở phía Đông, do vậy được gọi là An Dương Vương, nghĩa
là vị vua đã dẹp yên phương Đông (An = yên, Dương là hướng mặt trời mọc,
tức là hướng Đông).
Nước
Văn Lang – Âu Lạc của thiên tử Chu gồm Bắc Việt, Quảng Tây, Vân Nam và
Quý Châu, đúng như cương vực được chép trong truyền thuyết và hoàn toàn
phù hợp với những liên hệ cội nguồn của văn hóa trống đồng Đông Sơn với
các khu vực Điền và Dạ Lang. Rộng hơn, thiên hạ của nhà Chu bao gồm cả
các nước ở vùng Nam Dương Tử, Nam Hoàng Hà, cũng như … Đông Dương (phạm
vi Lào, Căm-pu-chia ngày nay). Sự tương đồng về văn hóa của Đông Nam Á
cổ đại (bao gồm cả Hoa Nam) chính là từ nguyên nhân lịch sử này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét