Bách Việt trùng cửu - nguồn http://báchviệt18.vn/
Truyện chim bạch trĩ trong Lĩnh Nam chích quái là truyện rất ngắn gọn nhưng lại rất khó hiểu vì những thông tin địa lý lịch sử mang trong đó không khớp gì với sử sách ngày nay. Truyện này bắt đầu như sau:
Truyện chim bạch trĩ trong Lĩnh Nam chích quái là truyện rất ngắn gọn nhưng lại rất khó hiểu vì những thông tin địa lý lịch sử mang trong đó không khớp gì với sử sách ngày nay. Truyện này bắt đầu như sau:
Về
đời vua Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là họ Việt
Thường đem chim bạch trĩ sang tiến cống. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công
phải sai sứ qua nhiều lần dịch mới hiểu nhau được…
Đây
là tích truyện đầu tiên nói tới nước Việt Thường. Nước Việt Thường này
nằm ở đâu và quan hệ của nó đối với lịch sử Việt Nam như thế nào là câu
hỏi đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm do có thể nước Việt Thường là
một giai đoạn cội nguồn của lịch sử Việt Nam.
Gần đây, tác giả Tạ Đức trong cuốn Nguồn gốc người Việt người Mường có cho
rằng nước Việt Thường này nằm ở Hồ Nam, hình thành vào cuối thời Ân đầu
thời Chu sau khi nước Xích Quỷ ở Ngô Thành bị tan rã. Sau đó do sự bành
trướng của nước Sở mà người Việt Thường đã di cư dần xuống phía Nam,
cùng với dân bản địa ở đây lập nên các quốc gia tiếp theo trong sử Việt
(Tường Kha, Thương Ngô, Văn Lang)…
Người
Việt Thường nếu vậy thì là dân “thiên di” thuộc loại siêu đẳng… Người
Việt Thường đúng là “chuyên gia”, cứ giặc đánh đến thì bỏ nước mà đi,
sang đất láng giềng rồi lập quốc ở đó. Truyền thuyết và lịch sử Việt sao
không thấy có chút “ký ức” gì về phương pháp lập quốc độc đáo này?
VIỆT THƯỜNG VÀ CẢO KINH
Đọc tiếp Truyện chim bạch trĩ:
Chu
Công hỏi: “Tại sao tới đây?”. Họ Việt Thường đáp: “Đời nay không có mưa
dầm gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đã ba năm nay, ý chừng là Trung
Quốc có thánh nhân xuất thế, nhân vậy tới đây”.
Chu
Công than rằng: “Chính lệnh không thi hành thì người quân tử không bắt
được kẻ khác thuần phục mình, đức trạch không mở rộng thì người quân tử
không hưởng lễ của người. Còn nhớ Hoàng Đế có câu thề rằng: phương Việt
Thường không thể xâm phạm được”. Bèn ban thưởng cho phẩm vật địa phương,
dạy răn mà cho về.
Họ
Việt Thường quên đường về, Chu Công bèn ban cho 5 cỗ biền xa đều chế
cho hướng về phương Nam. Họ Việt Thường nhận lấy rồi theo bờ biển Phù
Nam, Lâm Ấp đi một năm thì về tới nước. Cho nên, xe chỉ nam thường dùng
để đi trước đưa đường.
Truyền thuyết cho thấy rõ nước Việt Thường được nhắc tới là một nước giáp với biển. Sứ Việt Thường nói: “ngoài bể không nổi sóng lớn” và khi về thì men theo bờ biển mà về nước. Nước Việt Thường do vậy không thể ở Hồ Nam, là vùng đất còn cách biển cả ngàn km.
Nhưng khó hiểu nhất là đoạn họ Việt Thường “theo bờ biển Phù Nam, Lâm Ấp”
để về nước. Nhà Chu ở đâu mà sứ giả Việt Thường lại đi về qua Phù Nam
và Lâm Ấp? Phù Nam và Lâm Ấp ở tận miền Trung và miền Nam Việt Nam ngày
nay cơ mà.
Theo
Hoa sử nhà Chu khởi nghiệp từ Cơ Xương, ban đầu đóng ở đất Phong. Khi
Cơ Phát cùng chư hầu đánh Trụ diệt Ân thắng lợi, lên ngôi thiên tử của
Trung Hoa thì đã cho dời lại đô về đất Cảo ở phía Tây, bắt đầu thời kỳ
Tây Chu. Chu Thành Vương nối ngôi cha khi còn nhỏ, Chu Công làm phụ
chính. Sứ giả Việt Thường vào cống chim trĩ thời Chu Thành Vương như vậy
là ở Cảo Kinh. Cảo Kinh của nhà Chu phải nằm không xa đất “Phù Nam, Lâm
Ấp”, nên không thể là vùng Thiểm Tây ở tận Bắc sông Hoàng Hà như các sử
gia Tàu chú thích.
Dựa
trên những thông tin mới trong địa lý lịch sử Việt Nam thì nước Việt
Thường và kinh đô nhà Chu có thể xác định như sau. Đầu tiên, nước Việt
Thường thời Tây Chu là nước… Việt. Điều này thật đơn giản và rõ ràng đến
bất ngờ. Nước Việt thời Chu có địa bàn ở vùng hạ lưu sông Dương Tử, nay
là các tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang. Người nước Việt là con cháu nhà Hạ,
đã khai phá vùng đất này và lấy đó làm nơi thờ cúng Hạ Vũ. Tới thời
Đông Chu, nước Việt cường thịnh, Việt Câu Tiễn đánh thắng nước Ngô, trở
thành một bá vương trong Xuân Thu ngũ bá.
Thượng thư đại truyện đầu thời Hán chép: “Ở phía Nam Giao có nước Việt Thường dùng nhiều lớp thông ngôn đến hiến chim trĩ trắng…”.
Việt Thường có nghĩa là nước Việt ở phía Nam vì Thường = thẳng, là đầu
hướng Nam xưa trong cặp lưỡng lập thẳng – cong, vuông – tròn. Phương Nam
xưa là phương Bắc ngày nay, tương tự như kim la bàn gọi là Nam châm lại
luôn chỉ về cực Bắc. Nước Việt nằm ở cửa sông Dương Tử thì đúng là ở
phía Nam của đất Giao Chỉ. Phải gọi là Việt Thường (Việt ở phương Nam)
để phân biệt với Việt gốc là đất Giao Chỉ của thời nhà Hạ.
Đất
Phong của Văn Vương được xác định là Phong Châu (Phú Thọ), kinh đô của
nước Văn Lang trong truyền thuyết Việt. Do vậy Cảo Kinh của thời Tây Chu
phải là vùng Vân Nam. Có vậy thì sứ giả Việt Thường mới có thể từ Cảo
Kinh mà ra đến bờ biển Phù Nam, Lâm Ấp được.
Tạ
Đức có cho một thông tin đáng chú ý về di chỉ Ngô Thành ở Giang Tây.
Thành ấp này đã bị phá hủy vào cuối thời Ân, đầu thời Chu, sau không
thấy dấu tích của người ở nữa. Ai đã phá hủy Ngô Thành? Không thể là nhà
Ân vì lúc này Ân Trụ Vương còn đang phải đối phó với cuộc tấn công của
Chu Vũ Vương ở An Huy. Càng không phải do nước Sở bành trướng xuống
phương Nam vì thời kỳ này nước Sở còn chưa ra đời. Ngô Thành đã bị tấn
công bởi chính Chu Vũ Vương trong đợt phạt Trụ vì đây vốn là đất gốc của
nhà Thương, từ trước khi Bàn Canh dời đô. Đây chính là vùng Thương Ngô,
tức là đất Ngô của nhà Thương.
Tuy
nhiên, trong cuộc tấn công này Chu Vũ Vương chỉ dừng lại ở Thương Ngô
mà không tiến xa hơn về phía Đông, nơi có nước Việt từ thời Hạ. Lý do
như Chu Công đã nói: “phương Việt Thường không thể xâm phạm được”.
Không phải Hoàng đế hay các vua Chu sợ gì sức mạnh của nước Việt, mà vì
nước Việt là đất dành riêng để thờ Đại Vũ, tổ tiên của người Hoa Hạ.
Đây là khu vực linh thiêng đối với những người Hoa dòng dõi từ Hoàng Đế
Hữu Hùng nên “không thể xâm phạm”.
Cũng
vì sự liên hệ ruột thịt giữa nước Việt này với nhà Hạ mà nhà Hạ là nước
Xích Quỷ ở vùng Nam Giao – Động Đình, tức là khu vực Giao Chỉ, nên
trong khi nói chuyện Chu Công mới hỏi sứ giả Việt Thường về người Giao
Chỉ (đúng hơn là hỏi về những người dòng dõi nhà Hạ): “Người Giao Chỉ cắt tóc ngắn, xăm mình, để đầu trần, đi chân đất, nhuộm răng đen là cớ làm sao?”. Hoa sử chép về việc lập nước Việt là vào thời Hạ trung hưng, con cháu nhà Hạ vua tôi cắt tóc ngắn, xăm mình lội nước lao động cật lực khai phá đất mới… Vùng đất mới ở cửa sông Dương Tử này được dành riêng thờ vua Vũ nhà Hạ, chính là nước Việt (Việt Thường) thời Chu.
Nước
Việt lại là dòng dõi nhà Hạ thì rõ ràng nhà Hạ là một triều đại lịch sử
của người Việt. Hạ là Việt, tức là Hoa là Việt vì Hoa Hạ là một. Trung
Hoa cổ đại chính là Bách Việt.
Chu Vũ Vương mất, Thành Vương nối ngôi thiên tử của Trung Hoa. Nước Việt lúc này (“sau 3 năm” từ khi Vũ Vương diệt Trụ?) thấy “Trung Quốc có thánh nhân xuất thế”
nên cử sứ giả vào cống, tỏ ý thần phục nhà Chu. Chim trĩ là biểu tượng
của văn minh vì Trĩ = trữ = chữ. Có chữ viết tức là có văn minh. Cống
chim trĩ ý muốn nói nước Việt sẽ theo văn minh, theo ánh sáng dẫn đường
của nhà Chu. Với việc cống chim trĩ này nước Việt Thường chính thức tham
gia vào thiên hạ Trung Hoa mà nhà Chu là thiên tử.
ĐƯỜNG ĐI CỦA SỨ VIỆT THƯỜNG
Vấn
đề hấp dẫn nhất trong chuyện chim bạch trĩ là sứ giả Việt Thường đã đi
cống nhà Chu và về nước theo con đường nào. Những thông tin ngắn gọn
được chép trong truyền thuyết cho phép xác định tuyến đường đi về của sứ
giả Việt Thường.
Sử ký Tư Mã Thiên cho biết họ Việt Thường đã phải qua “ba lần sứ dịch” mới đến được kinh đô nhà Chu. Dị bản Lĩnh Nam chích quái chép từ ngữ chỗ này là “trùng dịch”
với chữ “dịch” mang nghĩa là “tạm nghỉ chân để đổi ngựa”. Hiểu thông
tin ở đây thành “phiên dịch” (thông ngôn) nhiều lần là sai. Sứ giả Việt
Thường đã dừng chân ở dịch quán dành cho sứ giả nước ngoài 3 lần, tức là
từ Việt Thường đến Cảo Kinh sứ giả đã đi qua 3 nước. Mỗi nước phải dừng
lại để lấy “visa”, hay đóng “giấy thông hành” kiểu như Đường Tăng đi
thỉnh kinh vậy.
Khi
nối giữa nước Việt ở Chiết Giang với Cảo Kinh ở Vân Nam bằng một đường
chim bay thì thấy rõ tuyến đi của sứ Việt Thường qua đúng 3 nước. Đó là:
nước Ngô ở Giang Tây (Thương Ngô), nước Sở ở Hồ Nam (Kinh Sở) và khả
năng là nước Thục ở Quý Châu (Quý Châu là Ba Thục, đất khởi nghiệp của
Tây Bá hầu Cơ Xương).
Tuyến đường đi về của sứ Việt Thường
Tuyến đường đi về của sứ Việt Thường
Khi
ra về, sứ Việt Thường “quên đường”… Đường đi tới một nước xa lạ còn
biết chẳng nhẽ đường về nhà lại quên? Thay vì đi theo hướng cũ sứ Việt
Thường chọn đi hướng gần như ngược với lúc đi, kể cả khi đã được phát xe
chỉ nam để định phương hướng. Hẳn không phải đơn giản là sứ Việt Thường
quên đường mà là muốn đi một con đường khác, nhân thể đi “thăm chính
thức” các chư hầu của nhà Chu, nhằm công bố sự hội nhập của mình trong
thiên hạ Trung Hoa. Cũng vì thế Chu Công mới cấp cho 5 cỗ biền xa, tương
tự như một dạng “giấy giới thiệu” từ trung ương xuống các địa phương
cho Việt Thường. 5 cỗ biền xa này do vậy mới được đi trước để đưa đường.
Như
vậy thì ra vùng “Phù Nam, Lâm Ấp” cũng là những chư hầu của nhà Chu mà
nước Việt đã đến đặt “quan hệ ngoại giao”. Từ Vân Nam để ra biển Phù
Nam, Lâm Ấp thì hẳn sứ Việt Thường đã đi dọc theo dòng Mê Kông, hay sông
Khung Giang trong ngôn ngữ xưa. Khung = Khương, Khương là họ của Thái
Công Lã Vọng, đại công thần lập quốc của nhà Chu, được phong ở đất Tề.
Nhà sử học Đào Duy Anh cho biết: “Sách
Điền Hệ của Súy Phạm viết về các dân tộc thiểu số ở miền Vân Nam cho
biết rằng một dân tộc thiểu số tên là Sản Lý hay Xa Ly, có truyền thuyết
nói rằng đời Chu Thành vương họ sai sứ giả đến triều cống, khi về được
Chu công cho xe chỉ nam, vì thế họ lấy tên là Xa Lý. Lại có một dân tộc
khác là Lão Qua (Lào) có truyền thuyết rằng ở thời nhà Chu, tổ tiên của
họ là nước Việt Thường. Sách Điền Nam tạp chí thì nói Diến Điện (Mianma)
là nước Việt Thường xưa“.
Xa
Lý nay là tỉnh Phong Xa Lỳ của Lào, giáp với Lai Châu, Điện Biên ngày
nay. Từ Vân Nam để ra dòng Mê Kông thì rõ ràng phải qua vùng Phong Xa Lỳ
và tiến tới biên giới giữa Lào và Mianma. Truyền thuyết ở vùng Lào –
Miến này một lần nữa xác nhận tuyến đường về của sứ Việt Thường, cũng
như vị trí Cảo Kinh của Tây Chu ở Vân Nam.
Khu
vực đất Lào thời Chu thực ra là nước Lỗ, đất phong của Chu Công. Khu
vực này còn gọi là Lâm Ấp vì Lâm = Ly = La = Lỗ = Lão. Còn đất Phù Nam thiết Pham hay Phan,
là họ của Tất Công, vị quân chủ thứ ba ở thành Lạc Dương (phần Đông của
nhà Chu). Phù Nam là đất phong của họ Phan. Sứ nước Việt trên đường về
đã đến thăm một loạt các nước chư hầu, là những đại công thần khởi
nghiệp của nhà Chu.
Khi
ra đến biển Phù Nam, vì biết chắc nước Việt Thường nằm cạnh biển nên sứ
giả cứ men theo bờ biển mà về. Tuyến đường men biển này khá dài, chạy
ngược hình chữ S của Việt Nam ngày nay, qua Quảng Tây, Quảng Đông, về
đến quê hương Việt Thường ở Phúc Kiến, Chiết Giang. Thời gian cho quãng
đường về dài như vậy tới hơn một năm là hoàn toàn hợp lý.
Tổng
khoảng cách cả đi và về của sứ Việt Thường tính vào khoảng 8.000 –
10.000km. Một quãng đường du hành ngoại giao kỷ lục vào thời kỳ 3.000
năm trước. Với kỷ lục này ấn tượng của chuyến đi sứ họ Việt Thường đã để
lại khắp dọc đường và in sâu trong truyền thuyết Việt qua Truyện chim bạch trĩ.
Cũng vì phạm vi của chuyến công du này quá rộng dẫn đến tình trạng định
vị nước Việt Thường lúc thì ở phía Bắc, lúc lại là phía Nam, thậm chí
còn ở cả bên Lào và Miến Điện. Nay với việc xác định nhà Chu là nước Văn
Lang thời Hùng Vương, Tây Chu đóng đô ở Cảo Kinh tại Vân Nam thì nước
Việt Thường cống chim trĩ là nằm ở phía Đông, là nước Việt hậu duệ của
nhà Hạ ở hạ lưu Nam Dương Tử.
Nước Việt Thường
Tôi viết bài thơ nước Việt Thường
Cống chim trĩ trắng thủa Hùng Vương
Ba lần sứ dịch vào kinh Cảo
Một tuế xuôi dòng Lâm Ấp hương
Đất mới khai hoang khi Hậu Hạ
Chu Công gặp mặt chốn Văn Lang
Biền xa chỉ hướng thăm Tề Lỗ
Sóng biển Phù Nam nhắc chuyện trường.
Nước Việt Thường
Tôi viết bài thơ nước Việt Thường
Cống chim trĩ trắng thủa Hùng Vương
Ba lần sứ dịch vào kinh Cảo
Một tuế xuôi dòng Lâm Ấp hương
Đất mới khai hoang khi Hậu Hạ
Chu Công gặp mặt chốn Văn Lang
Biền xa chỉ hướng thăm Tề Lỗ
Sóng biển Phù Nam nhắc chuyện trường.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét