Cuộc nổi
loạn núi Lục Lâm mà lịch sử chỉ đích xác là “Lục Lâm thảo khấu”
đắc thời nên trở thành cuộc phục hưng của các dân Man hay Mông.
Hãn quốc
được tạo lập, Đại Hãn đầu tiên là Lưu Huyền, thủ đô là Tây An ngày
nay. Phàn Sùng và quân Xích Mi tôn Lý Bôn Tử lên ngôi vua, Hán sử không
nói đến đế hiệu của vì vua con cháu Lý Bôn này, quân Xích Mi có kỷ
luật nghiêm nhặt rất được dân chúng ủng hộ đã mau chóng phát triển
và sau cùng tấn công Tây An giết chết Đại Hãn Lưu Manh.
Lưu Tú một
tướng lãnh của Tây Khả Hãn đang cai trị vùng bắc Hoàng Hà nay là Sơn
Tây, Hà Bắc tuyên bố lập Đông hãn quốc và lên ngôi hoàng đế . Triều
Đông Hãn là kế thừa chính thống của triều Tây Hãn đã diệt vong.
Quang Vũ là hoàng đế khai quốc của Đông Hãn, thực ra danh vị này do
Hán sử đặt cho ông ta. Quang là chữ viết sai của Quan là từ nom- nhìn
Việt ngữ dịch sang hán ngữ ; danh hiệu Quan vũ chỉ nghĩa là Chúa
phương Nam của người Man – Mông – Mãn – Minh . Lưu Tú là biến âm của “Lu
Tối”; Đông Hãn kế tiếp Tây Hãn , Quan vũ tự nhận là cháu 5 đời của
Hiếu Cảnh đế…, nhưng không có gì che mắt được thiên hạ nên dân gian có
câu …mập mờ đánh lận con đen... bia miệng ngàn năm vẫn còn trơ
trơ và sự bịp bợm không còn gì che đậy được nữa .
Ở một
phần trước của thiên khảo luận này đã nói đến 2 “tiền quốc” của
người Lu hay Liêu.
- Đông bắc
Hoàng Hà (hiện nay) là nơi sinh tụ của dân quan Liêu ngày nay là 2
tỉnh Sơn Tây-Hà Bắc.
- Đông nam
Hoàng Hà thuộc dân Từ Lu hay Tào Lao, nay là tỉnh Sơn Đông – Giang Tô,
xưa gọi là bọn Hoài Di Từ Nhung.
Phàn Sùng
và chúa “Lý Bôn Tử” đã sai lầm chết người khi đóng đô ở Tây An tức
thành đô của Lưu Manh nước Tây Hãn, lập tức họ bị dân Man triệt đường
lương thực, quẫn bách phò Chúa chạy sang Cam Túc đất “truyền thống”
của Hung Nô , Kết quả là thầy trò ôm cái bụng đói meo chạy về hướng
đông lọt đúng vào cái bẫy Lưu Tối đã giăng sẵn, không còn cách nào
khác ngoài việc xin hàng, Lưu Tú giở trò nhân nghĩa dẫn họ về Lạc
Dương cấp đất để thầy trò sinh sống, chỉ vài tháng sau Phàn Sùng bị
“làm thịt” vì tội mưu phản.
Phải thừa
nhận Lưu Tối, Quan Vũ là đại trí, đại dũng nhưng cũng đại lưu manh …
chính ông ta là người đã xô dân họ HÙNG vào màn đêm tăm tối của kiếp
nô lệ.
Chính sử
Trung hoa cố gắng đánh lừa thiên hạ nhập nhèm gọi triều Hiếu của Lý
Bôn là nhà Tây Hán để Tây hán chuyển sang Đông Hán là sự tiếp nối
bình thường hợp lẽ…cũng là Hán cả chỉ phân ra Tiền và Hậu mà
thôi….thực tế : đây là sự sang trang của lịch sử ;Trung hoa từ một
quốc gia độc lập biến thành nô lệ các đại hãn man phương.
2. Kẻ sĩ Nhiếp Chính
Vương Mãn
nhà Tân (Chu) tuẫn quốc nhưng toàn cõi lĩnh nam vẫn không chịu khuất
phục, các Châu, Quận trở thành các vùng tự trị, ở Giao Chỉ Sỹ
Nhiếp lãnh đạo nhân dân tự trị . Sỹ Nhiếp không phải là tên là họ,
Sỹ Nhiếp nghĩa là ‘kẻ có học tạm nắm quyền’.
Tích Quang
sang làm thái-thú quận Giao-chỉ từ đời vua Bình-đế 平 帝 nhà Tây-Hán, vào quãng năm 1 năm 3 sau công nguyên ,
cuối thời vương Mãng bọn Lục lâm thảo khấu người dân tộc Liêu ở bắc
Trung quốc do đám qúy tộc họ Lưu cầm đầu nổi lên cướp bóc chém giết
khắp nơi chính quyền trung ương hầu như bất lực , kỷ cương phép nước
không còn , ở các châu miền Lĩnh nam các quan cầm đầu châu mục như
Đặng Nhượng ,Tích Quang , Đỗ Mục phải đóng cửa tự giữ , châu quận hầu
như là các vùng tự trị nhưng người đứng đầu là các Nho sĩ không xưng vương xưng tướng gì cả vì thế sử gọi họ là ‘Sĩ nhiếp’ tức kẻ Sĩ
nhiếp chính nghĩa là kẻ có học
tạm nắm quyền cai quản châu quận trong
tình thế không còn lệnh vua và triều đình trung ương chứ không có nhân
vật lịch sử nào họ Sĩ tên Nhiếp cả và với nghĩa này thì
có thể có nhiều Sĩ Nhiếp chứ không chỉ 1 , ngoài Sĩ Nhiếp Đặng Nhượng – Tích Quang
Sử Việt còn có Sĩ Nhiếp – Ngạn Uy thời ‘Tam quốc’ .V.V.
Sử Việt
trước kia rất trọng Sỹ Nhiếp, thời kỳ này coi như 1 chương của lịch
sử, gọi là kỷ Sỹ Vương, các sử gia rất lúng túng khi thì coi như 1
thời kỳ độc lập của nước Việt, khi thì coi như là 1 thời trong chuỗi
ngày nô lệ .
Về mặt văn
hóa cũng có nhiều điều không bình thường, trước đây sử học thường
cho là: người Việt nhiễm văn hoá “Trung Hoa” từ thời này, Sỹ Nhiệp
đã đem Tứ Thư, Ngũ Kinh, phong hóa Khổng Giáo truyền vào nước Việt ,
nhiều tư liệu cũng cho là chữ Nôm, thứ chữ riêng của người Việt đã
có gốc từ thời này. Nương theo cái đà ấy các sử gia “đế quốc” phịa
thêm: Sỹ Nhiếp đã dạy chữ Hán cho dân Việt, giúp đỡ để đôi nam nữ
thành vợ thành chồng theo lễ nghi Trung Hoa, thậm chí dạy cho dân Việt
cách cày bừa, trồng trọt.
Với ý
nghĩa chữ Sỹ Nhiếp là ‘kẻ có học tạm cầm quyền’… cho ta rõ là chủ
quyền của quốc gia đã mất ở thủ đô, ở các địa phương kẻ sỹ nhiếp
quyền để lãnh đạo nhân dân tự trị và tự lực, đấy cũng là lý do cho
điều sử Việt Nam viết: ‘các quan lại, đại thần, danh sĩ nhà “Hiếu –
Tây Hán ” rút về Giao Chỉ đều được Sỹ Nhiếp đón tiếp, đối đãi tử
tế. Giao Chỉ giờ thành đất cực nam ( nay )Trung Hoa, nơi tinh hoa Trung
Hoa đổ về vì các miền đất khác đều bị khả Hãn man tộc lần lượt
chiếm đóng . Thử hỏi nếu đúng như chính sử hiện nay thì Sĩ nhiếp
làm quan nhà Đông Hãn cai quản Giao châu trong các năm 187 đến năm 226
thì làm gì còn đại thần danh sĩ nhà Tây Hán ?.
Sau cùng
việc đến cũng phải đến, năm 39 Quan Vũ vua Đông Hãn sai Mã Diện
(Viện) nghĩa là Mặt ngựa thống nhất quân thủy bộ tổng tấn công Giao
Chỉ. Cuộc tổng tấn công này sử Việt lầm lẫn biến thành cuộc chiến
chống lại cuộc khởi nghĩa 2 bà Trưng. …
Khi Mã
Diện chiếm Giao Chỉ năm 43 thì ở đây dân Việt: – Vẫn còn dùng trống
đồng để tế lễ tổ tiên .
Vẫn còn
dùng luật Việt mà Mã Diện đã tâu về triều đình là khác luật Hán
10 điều.
Hai điều
trên chứng tỏ trước khi Mã Diện kéo quân đến thì sinh hoạt của dân
chúng vẫn thuần “Việt” nghĩa là không nô lệ người Hán . Năm 43 (Quí
Mão) Giao Chỉ thất thủ, Hãn Quốc Đông hoàn tất việc chinh phục Trung
Hoa. Thành tích của Mã diện ở Giao Chỉ thì rất nhiều nhưng nổi
tiếng nhất là truyền tích:
Mã Vương ra
lệnh thu tất cả trống đồng ở Giao Chỉ đúc thành 1 con ngựa dâng lên
Quan Vũ vua Đông Hãn, và ra lệnh chôn một trụ đồng trên đó khắc hàng
chữ: ‘đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt’, đến nay câu trên vẫn được dịch:
trụ đồng gãy thì Giao Chỉ mất nước. Thực sự thì Mã Vương đâu có
tốt đến thế, trụ đồng mà gãy thì phải đến cả trăm năm. Ta giải mã
đoạn sử trên như sau : trống đồng là đặc trưng văn hóa nước Văn Lang
tức triều Chu của Trung Hoa, do công dụng tế tự tổ tiên trống đồng
trở thành linh khí nối thông quá khứ với hiện tai tạo nên dòng linh
lực vô tận tuôn đổ từ quá khứ ngàn đời nuôi sống tâm linh con cháu
Trung Hoa , Việc nấu chảy trống đồng là ý của câu ‘đồng trụ chiết ‘
và nghĩa cả câu là : khi Mã diện chiếm Giao-chỉ thì trụ đồng của
nền văn minh tâm linh Trung Hoa gãy . Câu này còn chỉ rõ 1 điều ít ai
để ý : trống đồng bị nấu chảy đúc thành con ngựa là ý nói :
nền văn minh Văn Lang đã bị Quan vũ và Mã diện phù phép biến ra văn
minh dân Man tức dân lấy ngựa làm gốc, ăn ngủ trên lưng ngựa, sống
chết trên mình ngựa, tóm lại là nền văn minh lang thang du thủ du thực
với ngựa, tạm gọi là văn hóa- văn minh …Ngựa.
Diệt quốc
Trung Hoa, tráo đổi văn minh Trung Hoa chính là Quan Vũ, kẻ thực hiện
chính là Mã Diện (Viện). Quan Vũ – Lu tối đã hành động thật xứng
mặt là Cao Tằng Tổ của Càn Long đế quốc Mãn Thanh sau này, kẻ đã
diệt chủng Trung Hoa về văn hóa trong đợt đại hồng thủy “Tứ khố toàn
thư”. Ta lưu ý; Đông Hãn sau khi chiếm Giao Chỉ đã hụt hơi không thể
tiến xa hơn được, nên thiên hạ của Trung Hoa cũng còn 3 nước thoát ách
chiếm đóng đó là phần đất thuộc các nước: Lỗ, Yên, Tề thời chiến
quốc về sau lập thành các nước sử Hán gọi là Phù nam , Đốn Tốn và
Lâm ấp-Hoàn vương .
3. Cuộc khởi nghĩa của 2 nữ vương (Ngày 5 tháng
2 năm Giáp Tý – 184)
Đạo Giáo
thời phục hưng do Trương Thiên Sư còn gọi là Trương Đạo Lăng lập nên,
Lăng là biến âm của Lang vậy Trương Đạo Lang đồng nghĩa với Trương
giáo chủ là danh xưng không phải tên riêng .
. Đông Hãn
đến đời Linh Đế thì trở nên cực kỳ hủ bại, vua chỉ biết ăn chơi
hưởng lạc, quan chỉ lo bóc lột dân, triều đình công khai rao bán quan
chức, hoạn quan lộng hành nơi cung cấm, khống chế cả triều chính –
bản chất của một triều đình đế quốc man rợ đã lộ rõ.
Dân Trung
Hoa đã bắt đầu nổi dậy, đáng kể là cuộc khởi nghĩa của Hứa Sinh ở
Cối Kê đất tổ của Việt Vương Câu Tiễn xưa, Hứa Sinh lên ngôi xưng là
Dương Minh Hoàng Đế, năm 174 quân khởi nghĩa bị đánh bại.
Ở quận Cự
Lộc có 3 anh em Trương Giác, Trương Lương, Trương Bảo (chữ Giác – Lương –
Bảo chỉ có nghĩa là Thứ 1, Thứ 2, Thứ 3). Trương Giác tinh thông y
thuật, tự coi là truyền nhân của Trương Đạo Lang đã lập nên Thái Bình
Giáo vừa giúp dân vừa cứu đời , sau 10 năm hoạt động Thái Bình Giáo
đã truyền ra khắp nước, Hán Linh Đế và bọn tham quan ô lại vẫn vùi
đầu ăn chơi. Đệ tử Thái Bình Giáo được tổ chức chặt chẽ thành 36
phương, ước hẹn vào ngày 5-3- giáp tý (184 ) sẽ đồng loạt khởi nghĩa
phục quốc. Nhưng có kẻ phản bội kế hoạch bị lộ, Trương Giác quyết
định khởi nghĩa sớm 1 tháng tức 6-2-Giáp tý -184. Trương Giác xưng là
Thiên Công Tướng Quân, Trương Lương là Nhân Công Tướng Quân và Trương Bảo
là Địa Công Tướng Quân, vì quân khởi nghĩa dùng khăn vàng quấn lên
đầu làm ám hiệu nên được gọi là Quân khăn vàng. Hãn quân do Hà Tiến
và Tào Tháo chỉ huy đã đàn áp đẫm máu quân khởi nghĩa, sau 9 tháng
chiến đấu ngoan cường không may thủ lãnh Trương Giác bị bệnh đột ngột
từ trần, các em Trương Lương, cũng lần lượt hy sinh. Quân chủ lực khăn
vàng bị đánh bại nhưng những cánh quân lẻ tẻ tiếp tục kháng chiến
đến cả chục năm sau, Hãn quân vẫn chưa diệt hẳn được.
Thực là 1
trang sử bi hùng, được sử Việt Nam lưu giữ dưới truyền tích khởi
nghĩa của 2 bà Trưng : Trương Giác là bà Trưng Trắc, Trương Lương là
Trưng Nhị.
Do quan
điểm văn hóa nên 2 dòng sử Việt – Hoa có sự khác biệt :
Trung quốc
với truyền thống trọng nam khinh nữ qúa đậm nét nên các sử gia đã
không dám thể hiện một sự thực lịch sử : cầm đầu cuộc nổi dậy
phục quốc là 2 hoặc cũng có thể là 3 vị nữ vương ; còn ở Việt nam
hình ảnh các nữ vương cưỡi voi xông pha trận mạc đã trở thành hào
khí dân tộc từ ngàn xưa đến tận ngày nay.
Sử Việt
đã lầm lẫn cuộc đàn áp quân khăn vàng của Hà Tiến và Tào Tháo năm
184 với cuộc tấn công diệt quốc Giao Chỉ của Mã Vương năm 39. Ngày nay
ở Việt Nam hằng năm vẫn làm lễ kỷ niệm hai bà Trưng vào ngày 6
tháng 2 âm lịch nhưng lại cho là ngày 2 bà Trưng tuẫn quốc ở Hắc
Giang – thực ra đó chính là ngày khởi nghĩa của quân khăn vàng ; so
sánh các sự kiện của 2 cuộc khởi nghĩa ta thấy hai yếu tố chính là
tên thủ lãnh và ngày tháng đều trùng hợp chứng tỏ đó chỉ là 1 sự
kiện được thể hiện bởi 2 dòng sử khác nhau mà thôi .
Cuộc khởi
nghĩa của 2 bà Trưng được dân gian lưu truyền : 2 bà khởi binh để rửa
hận cho nước, trả thù cho chồng có vẻ… không bình thường ; vì tên
chồng của Trưng Trắc bị giặc Hán giết là THI SÁCH cũng có thể đọc
là THƠ-SÁCH từ thuần Việt nhưng nghe rất xa lạ với người Việt; rất
có thể đây là lối dùng chữ để ám chỉ : Thi hay thơ chỉ Kinh Thi là
văn chương Trung Hoa, Sách là Kinh Thư chính là sử sách Trung Hoa , 2
quốc bảo này truyền từ đời Chu đã bị quân xâm lược Đông Hán hủy
hoại , Thi Sách bị giết hại ám chỉ kinh Thi –Kinh Thư bị chà đạp
đồng nghĩa với sự vong quốc, con dân họ HÙNG quằn quại trong kiếp nô
lệ giặc Hãn phương Man.
2 nhà khoa
bảng Việt nam là :
- Nguyễn
Thực đi xứ trung Hoa cuối thế kỷ 16 và Ngô thì Nhậm năm 1793 đ̣ã tận
mắt thấy và ngậm ngùi với những vần thơ nói đến đền thờ 2 bà Trưng
ở Hồ nam .
Gần đây
bác sĩ Trần đại sỹ đã làm việc 1 thời gian dài và đã khảo sát
rất công phu tường tận về đạo thờ vua Trưng ở khắp các tỉnh miền nam
trung quốc .
Những tư
liệu mới này gợi lên nhiều điều băn khoăn suy nghĩ về cuộc khởi
nghĩa của quân ‘Khăn vàng’.
Theo chính
sử Trung quốc thì dưới thời Đông Hán ngoài cuộc khởi nghĩa ‘hoàng
cân ‘ hay ‘khăn vàng ‘ thì không có cuộc khởi nghĩa nào khác có quy mô
toàn quốc cả , chỉ lẻ tẻ ở địa phương như Cối kê có cuộc khởi
nghĩa của Hứa Sinh , Giao chỉ có khởi nghĩa của Trưng thị …
Vậy tại
sao lại có đền thờ ‘ vua Bà’ khắp Hoa nam ? đúng theo Hán sử những
đền thờ ấy phải thờ anh em Trương Giác thủ lãnh của cuộc khởi nghĩa
Hoàng cân mới hợp lẽ ..?…điều bất thường này dẫn ta đến những gỉa
thuyết :
phải chăng
2 nhân vật Trương Giác thủ lãnh Hoàng cân và Trưng Trắc mà sử Tàu
nói đã nổi dậy ở Giao chỉ là một ; chi tiết quân khởi nghĩa theo 2
bà Trưng đã chiếm được 65 thành trì càng củng cố lập luận này .
quy luật
phát triển sự vật theo dịch lý gồm 2 chuỗi chẵn và lẻ :
- chuỗi số
chẵn : 1 – 2 – 4 – 8….64 ( thái cực – lưỡng nghi – tứ tượng và 64 quẻ
trùng )
- nếu thêm
vào chuỗi trên 1 phần tử ở trung tâm gọi là nhân ta có chuỗi phát
triển theo số lẻ 1 – 3 – 5 – 9….65 (thái cực – tam tài – ngũ hành và
65….thành trì ( ? ) )
Con số 65
trong dịch học có nghĩa là tất cả hay toàn thể , ở đây nó diễn tả
sự thành công to lớn của nghĩa quân của 2 bà Trưng đã chiếm lại được
và làm chủ trọn vẹn lãnh thổ quốc gia ( hiểu là lãnh thổ của Bách
Việt ) , chiếu theo sự phân bố những đền thờ vua Bà như đã biết thì
ta không thể nào nói khác hơn …là : đất nước của người họ HÙNG thời
đầu công nguyên ít ra cũng là toàn cõi Hoa nam ngày nay.
Còn 1 điểm
nữa rất quan trọng phải nói cho rõ : sử Trung Hoa cho cuộc khởi nghĩa
Hoàng cân là sự kiện ‘toàn quốc nổi dậy chống vua quan bạo ngược
triều Đông Hán’ ….còn cổ sử Việt thì ghi dứt khoát là ‘ hai bà Trưng
khởi nghĩa để rửa hận cho nước trả thù cho chồng’ … , ở đây rõ ràng
cùng một sự kiện lịch sử nhưng được nhìn từ 2 góc độ đối nghịch
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét